IRS Logo
Print

Các Dạng Lợi Tức

Chủ đề 401 - Tiền Công và Tiền Lương (Wages and Salaries)

Tiền công, tiền lương, và tiền boa mà một nhân viên thu được khi cung cấp dịch vụ cho một chủ hãng sở phải được tính vào tổng thu nhập của quý vị. Các khoản tiền thuế khấu trừ, bao gồm nhưng không giới hạn thuế thu nhập, an sinh xã hội, và thuế bảo hiểm y tế  (Medicare) được coi là "tiền nhận" và phải được tính vào tổng lthu nhập trong năm được khấu trừ. Thông thường, số tiền đóng góp của một chủ hãng sở vào một chương trình hưu bổng đủ điều kiện cho quý vị, thì không tính vào tổng thu nhập tại thời điểm nó được đóng góp. Tuy nhiên, tiền lương được khấu trừ theo thỏa thuận giảm tiền lương với người chủ hãng sở của quý vị có thể được tính vào tổng thu nhập trong năm được khấu trừ. Xin xem Bản Công Bố  17, Chương 5, Tiền công, Tiền lương và các Lợi tức khác, và Chương 6, Lợi tức Tiền boa, để có thông tin rõ ràng.

Chủ nhân của quý vị phải cung cấp một Mẫu đơn W-2 cho thấy tổng thu nhập của quý vị và tiền khấu trừ. Quý vị phải tính hết tất cả các tiền lương và tiền khấu trừ từ tất cả các Mẫu đơn W-2 mà quý vị nhận được, và nếu khai thuế chung, tất cả các Mẫu đơn W-2 của chồng hoặc vợ. Xin đính kèm một bản sao của mỗi mẫu đơn W-2 vào mặt trước của đơn khai thuế của quý vị, như được chỉ dẫn trong bản hướng dẫn. Xin lưu ý rằng Mẫu đơn 1099-MISC thường báo cáo thu nhập tự doanh. Xin xem Bản Công Bố 334, Hướng dẫn Thuế cho Doanh nghiệp Nhỏ, để biết thêm thông tin.

CHÚ Ý:  Chủ đề 407 có các thông tin về Thu Nhập Doanh nghiệp, và Chủ đề 608 có các thông tin về khấu trừ dư thừa thuế an sinh xã hội và thuế đường sắt.

Xin nộp đơn khai thuế điều chỉnh, Mẫu đơn 1040X, nếu quý vị nhận được một Mẫu đơn W-2 sau khi đã nộp đơn khai thuế. Chủ đề 308 cung cấp thông tin về đơn khai điều chỉnh.

Xin tham khảo Chủ đề 154, Mẫu đơn W-2 và mẫu đơn 1099-R (Phải Làm Gì Nếu Không Nhận Được), nếu quý vị không nhận được một hoặc nhiều Mẫu đW-2 trước ngày 31 Tháng Giêng.

Để biết thêm thông tin về tiền boa, xin tham chiếu Bản Công Bố 531, Báo Cáo Tiền Boa, và Bản Công Bố 1244, Ghi Sổ Tiền Boa Hàng Ngày của Nhân Viên và Báo Cáo cho Chủ Nhân.

 


Chủ đề 403 - Tiền Lời Thu Được (Interest Received)

Đa số tiền lời mà quý vị nhận được hoặc được trả vào tài khoản của quý vị, và số tiền đó quý vị có thể lấy ra mà không bị phạt, thì tiền đó là thu nhập chịu thuế. Thí dụ về thu nhập chịu thuế là tiền lời trong các tài khoản  ngân hàng, các tài khoản thị trường tiền tệ, các chứng chỉ gửi tiền, các cổ tức bảo hiểm. Tuy nhiên, tiền lời cổ tức bảo hiểm để trong ngân quỹ ở Bộ Cựu Chiến Binh, thì không phải chịu thuế. Tiền lời trên Trái phiếu Tiết kiệm Hoa Kỳ Loại EE và Loại I thường không phải báo cáo cho đến khi trái phiếu mãn hạn hoặc được đổi thành tiền. Tiền lời của các trái phiếu phát hành sau năm 1989 có thể không tính là thu nhập, nếu được sử dụng để trả cho chi phí giáo dục cao cấp trong năm và đủ tiêu chuẩn cho Chương trình Trái phiếu Tiết kiệm Giáo dục. Tiền lời không chịu thuế từ việc đổi thành tiền trái phiếu tiết kiệm Hoa kỳ vì được sử dụng để trả chi phí giáo dục cao cấp được tính toán trên Mẫu đơn 8815, Tiền Lời không Chịu Thuế từ Trái phiếu Tiết kiệm Hoa Kỳ Loại EE và Loại I được Phát hành Sau năm 1989, và được thể hiện trên Bảng khai B của Mẫu đơn 1040 hay Mẫu đơn 1040A. ‘Xin tham khảo Bản Công Bố 550, Thu Nhập và Chi phí Đầu tư, để có các chi tiết thông tin.

Một số các phân phối thường gọi là cổ tức thực sự là tiền lời. Chúng bao gồm "cổ tức" trên tiền gửi hoặc trên các tài khoản chung trong các ngân hàng hợp tác xã, liên hiệp tín dụng, hiệp hội xây dựng và cho vay trong nước, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay liên bang trong nước, và các ngân hàng tiết kiệm hỗ tương. Quý vị sẽ nhận được Bản B của Mẫu đơn 1099-INT (Thu Nhập Tiền lời) từ nơi trả các cổ tức này. Quý vị phải báo cáo cho Sở Thuế Vụ tất cả các tiền lời chịu thuế nhận được, ngay cả khi quý vị không nhận được Bản B của Mẫu đơn 1099-INT.

Nếu một công phiếu, trái phiếu, hoặc văn kiện nợ khác trước đây được phát hành với giá giảm, một phần của tiền giảm giá được phát hành ban đầu có thể được tính vào thu nhập mỗi năm như tiền lời. Xin tham khảo Bản Công Bố 550 hoặc Bản Công Bố 1212, Hướng dẫn Văn kiện Giảm giá Phát hành Ban đầu, để biết thêm thông tin về tiền giản giá phát hành ban đầu.

Thu nhập tiền lời từ Công khố phiếu, công phiếu và trái phiếu thuộc diện chịu thuế lợi tức liên bang, nhưng được miễn các loại thuế thu nhập tiểu bang và địa phương. Tuy nhiên, tiền lời trên một số trái phiếu sử dụng để tài trợ chính phủ và được ban hành bởi một tiểu bang, District of Columbia, hoặc một lãnh thổ  thuộc sở hửu của Mỹ thì không phải chịu thuế ở cấp liên bang. Xin báo cáo số lượng tiền lời miễn thuế nhận được trong năm thuế. Đây là một điều kiện báo cáo thông tin mà thôi, và không chuyển đổi tiền lời được miễn thuế thành thu nhập chịu thuế. Mẫu đơn 1099-INT, Lợi tức Tiền lời, Mẫu  ̣ơn 1099-OID, Giảm Giá Phát hành Ban đầu, hoặc một bản khai tương tự phải được nhận được từ mỗi nơi trả tiền lời là 10.00 đô la hoặc nhiều hơn, cho thấy tiền lời chịu thuế hoặc tiền lời được miễn thuế phải báo cáo .

Người được bổ nhiệm là một người nhận, dưới tên của họ, thu nhập và đơn khai báo cáo thực sự thuộc một cá nhân khác. Thông thường, nếu quý vị nhận được một Mẫu  đơn 1099 cho số tiền thực sự thuộc về người khác, quý vị được coi là một người nhận được bổ nhiệm. Có thể quý vị cần nộp đơn khai với Sở Thuế Vụ và cung cấp cho các chủ nhân khác một Mẫu đơn 1099. Nếu quý vị nhận được tiền lời với tư cách là một người được bổ nhiệm thay cho chủ nhân thực sự, quý vị cần phải cho thấy số tiền đó dưới một tổng số phụ của tất cả các lợi tức tiền lời được liệt kê trên Bảng khai B của Mẫu đơn 1040 hoặc Mẫu đơn 1040A. Làm theo các hướng dẫn của mẫu đơn về người được bổ nhiệm. Quý vị phải soạn một Mẫu đơn 1099-INT cho các tiền lời không phải của quý vị và cung cấp Bản B cho chủ nhân thực sự. Quý vị cũng phải nộp một bản sao của Mẫu đơn 1099-INT và một Mẫu  đơn 1096 đã điền đầy đủ, Đơn khai Tóm lược và Chuyển giao Thông tin Hoa Kỳ Hàng Năm, với Trung tâm Sở Thuế Vụ. Để biết thêm thông tin về các điều kiện này, xin tham khảo  Bản Hướng dẫn cho Mẫu đơn 1099-INT và Mẫu đơn 1099-OID.

Nếu quý vị nhận được lợi tức chịu thuế, quý vị có thể phải trả thuế ước tính. Để có thêm thông tin về thu nhập tiền lời, xin tham khả Bản Công Bố 550.

Quý vị phải cung cấp cho nơi trả lợi tức tiền lời của quý vị, số an sinh xã hội chính xác của quý vị. Nếu không, quý vị có thể bị phạt và bị khấu trừ dự phòng. Xin tham khảo Chủ đề 307 để có thông tin về khấu trừ dự phòng.

 


Chủ đề 404 - Cổ Tức (Dividends)

Cổ tức là sự phân phối tài sản (có thể bao gồm tiền bạc, cổ phiếu của một công ty khác, hoặc tài sản khác) mà một công ty trả tiền cho quý vị bởi vì quý vị có sở hữu cổ phiếu trong công ty đó. Quý vị cũng có thể nhận cổ tức qua một hiệp doanh, di sản, quỹ ủy thác, công ty loại S, hoặc từ một hiệp hội chịu thuế như một tổng công ty. Hầu hết các cổ tức được trả bằng tiền mặt. Một cổ đông của một công ty có thể được coi là nhận được cổ tức nếu công ty trả nợ của cổ đông, cổ đông nhận được các dịch vụ từ công ty, hoặc cổ đông được phép sử dụng tài sản của công ty. Một cổ đông cũng có thể nhận được các sự phân phối như chứng khoán hay các quyền cổ phiếu thêm trong công ty phân phối; các sự phân phối như vậy có thể hoặc không có thể đủ tiêu chuẩn là cổ tức.

Quý vị sẽ nhận được một Mẫu đơn 1099-DIV, Cổ tức và Phân phối, từ mỗi nơi trả phân phối 10.00 đô la trở lên. Ngoài ra, nếu quý vị nhận cổ tức qua một hợp doanh, di sản, quỹ ủy thác, hoặc một công ty loại S, quý vị sẽ nhận được một Bảng khai K-1 từ thực thể đó cho thấy số lượng cổ tức chịu thuế của quý vị. Quý vị phải báo cáo tất cả cổ tức chịu thuế dù quý vị không nhận được một Mẫu đơn 1099-DIV hoặc Bảng khai K-1.

Cổ tức thường là loại phân phối phổ biến nhất từ một công ty. Nó được trả ra từ các khoản lợi tức và lợi nhuận của công ty. Cổ tức thường chịu thuế như là lợi tức thường, trừ khi nó đủ tiêu chuẩn là cổ tức. Cổ tức đủ tiêu chuẩn là cổ tức thường đủ điều kiện để bị đánh thuế như lợi nhuận đầu tư ròng.

Các phân phối có đủ điều kiện như là một lợi nhuận của vốn, thì không phải là cổ tức. Lợi nhuận của vốn là một lợi nhuận của một số hoặc tất cả các đầu tư của quý vị trong cổ phiếu của công ty. Lợi nhuận của vốn làm giảm căn bản cổ phiếu của quý vị. Để có thông tin về Căn bản của Tài sản, xin tham khảo Chủ đề 703. Một sự phân phối thường đủ điều kiện là lợi nhuận của vốn nếu công ty phân phối không có lợi tức hay lợi nhuận tích lũy hoặc trong năm hiện tại. Một khi căn bản cổ phiếu của quý vị đã được giảm xuống số không, tất cả các phân phối không phải cổ tức sau đó được coi là lợi nhuận đầu tư.

Các phân phối lợi nhuận đầu tư có thể được trả bởi các công ty đầu tư quy định (quỹ hỗ tương) và quỹ ủy thác đầu tư bất động sản (REIT). Các phân phối lợi nhuận đầu tư luôn luôn được báo cáo là lợi nhuận đầu tư dài hạn. Quý vị cũng phải báo cáo các lợi nhuận đầu tư chưa phân phối mà các quỹ hỗ tương hoặc REIT đã chỉ định cho quý vị trong một giấy thông báo. Những lợi nhuận đầu tư chưa phân phối này được báo váo cho quý vị trên Mẫu đơn 2439. Xin tham khả Bản Hướng dẫn của Mẫu đơn 1040  hay Bản Hướng dẫn của Mẫu đơn 1040A để có thông tin về cách thức báo cáo sự phân phối các cổ tức đủ điều kiện và lợi nhuận đầu tư.

Mẫu đơn 1099-DIV phải chia các sự phân phối thành nhiều loại khác nhau. Nếu không, xin liên lạc với nơi trả.

Quý vị phải cung cấp cho chính xác số an sinh xã hội của quý vị cho nơi trả lợi tức cổ tức của quý vị. Nếu không, quý vị có thể bị phạt, và/hoặc bị khấu trừ dự phòng. Xin tham khảo Chủ đề 307  để có thêm thông tin về khấu trừ dự phòng.

Nếu quý vị nhận được cổ tức với số lượng đáng kể, quý vị có thể phải trả thuế ước tính.

Thông tin bổ sung về thu nhập cổ tức có thể tìm thấy trong Bản Công Bố  550, Thu Nhập và Chi phí Đầu tư, và   Bản Công Bố 564, Sự Phân phối Quỹ Hỗ tương.

 


Chủ đề 407 - Thu Nhập Doanh Thương (Business Income)

Thu nhập doanh thương là thu nhập nhận được từ việc bán sản phẩm hoặc dịch vụ. Thí dụ, lệ phí nhận được bởi một chuyên gia được coi là thu nhập doanh nghiệp. Tiền thuê nhà nhận được bởi một người trong ngành kinh doanh bất động sản là thu nhập doanh nghiệp. Các khoản thanh toán nhận được với các hình thức tài sản dịch vụ phải được tính vào thu nhập theo giá trị thị trường.

Thông thường một doanh nghiệp được tổ chức như một doanh nghiệp tự doanh, hiệp doanh, hoặc một công ty cổ phần. Doanh nghiệp tự doanh là một doanh nghiệp thuộc sở hữu của một cá nhân. Sự hiện hữu của một doanh nghiệp tự doanh gắn liền với sự hiện hữu của chủ nhân nó. Các khoản nợ kinh doanh là khoản nợ cá nhân của chủ nhân doanh nghiệp tự doanh. Một công ty trách nhiệm hữu hạn (LLC) với một chủ nhân duy nhất thường được coi là một doanh nghiệp tự doanh đối với các mục đích thuế lợi tức Liên bang, trừ trường hợp chủ nhân muốn đối xử công ty trách nhiệm hữu hạn này như là một công ty cổ phần (LLC). Một chủ nhân tự doanh nộp Mẫu đơn 1040 Bảng khai C, hoặc Mẫu đơn 1040 Bảng khai C-EZ, (với Mẫu đơn 1040), để báo cáo lợi tức và chi phí của doanh nghiệp. Một chủ nhân tự doanh mà có lợi tức ròng (từ Bảng khai C hay C-EZ không kể thu nhập nhân viên từ nhà thờ) là $400 hoặc nhiều hơn hoặc có thu nhập nhân viên từ nhà thờ là $108.28 hoặc nhiều hơn phải nộp Mẫu đơn 1040 Bảng khai SE. Bảng khai SE được sử dụng để tính thuế tự doanh, đó là kết hợp thuế an sinh xã hội và thuế y tế Medicare trên lợi tức tự doanh. Để biết thêm thông tin về doanh nghiệp tự doanh, xin tham khảo Bản Công Bố 334, Hướng dẫn Thuế cho Doanh nghiệp Nhỏ.

Công ty hợp danh là một tổ chức kinh doanh chưa hợp nhất, là kết quả của hai hoặc nhiều người tham gia với nhau để thực hiện việc thương mại hoặc kinh doanh. Mỗi người đóng góp tiền, tài sản, dịch vụ, hoặc một sự kết hợp của các thứ này, để được quyền chia sẻ lợi nhuận và các khoản lỗ của hợp doanh. Một LLC với nhiều hơn một chủ nhân thường được coi là một hợp doanh đối với các mục đích thuế má. Thu nhập và chi phí của hợp doanh thường được báo cáo hàng năm trên Mẫu đơn 1065, Đơn Khai Thuế Thu Nhập của Hợp doanh Hoa Kỳ. Một hợp doanh tự nó không trả thuế lợi tức. Mỗi đối tác nhận được một Mẫu đơn 1065 Bảng khai K-1, Phần Thu Nhập, Khấu trừ, Tín thuế,v.v.. của Đối tác, trong đó cho biết phần được phân phối cho đối tác trên thu nhập, chi phí, và các mục khác của hợp doanh, được ấn định theo các điều khoản của hợp đồng hợp doanh. Các đối tác báo cáo trên đơn khai thuế lợi tức của họ số tiền được báo cáo trên Bảng khai K-1. Để biết thêm thông tin, xin tham chi khảo Bản Hướng dẫn của Mẫu đơn 1065. Để biết thêm thông tin về hợp doanh một cách tổng quát, xin tham khảo  Bản Công Bố 541, Hợp doanh.

Danh từ "công ty", đối với các mục đích thuế thu nhập Liên bang, thường bao gồm các thực thể pháp lý riêng biệt với những người tạo lập công ty theo pháp luật Liên bang hoặc tiểu bang hoặc với các cổ đông chủ nhân công ty. Nó cũng bao gồm một số doanh nghiệp tự chọn được đánh thuế như một công ty bằng cách nộp Mẫu đơn 8832, Chọn sự Phân loại Thực thể. Thuế đánh trên thu nhập của một công ty được tính trên Mẫu đơn 1120, Đơn Khai Thuế Lợi tức của Công ty Hoa Kỳ. Mẫu  đơn 1120-A bây giờ hết được dùng bắt đầu từ năm thuế 2007. Để biết thêm thông tin về công ty một cách tổng quát, xin tham khảo  Bản Công bố 542, Các Công ty. Các công ty hội đủ một số điều kiện có thể chọn được trở thành công ty S, là loại công ty được đối xử một cách tương tự như hợp doanh. Một công ty S nộp Mẫu đơn 1120S, Đơn Khai Thuế Lợi tức cho một Công ty S Hoa kỳ, và thường không phải chịu thuế. Hầu hết thu nhập và chi phí của một công ty S là "chuyển qua" cho các cổ đông theo Mẫu đơn 1120S Bảng khai K-1, Phần Thu Nhập, Khấu trừ, Tín thuế,v.v… của Cổ đông. Các cổ đông báo cáo trong đơn khai thuế lợi tức của họ số tiền ghi trên Bảng khai K-1. Để biết thêm thông tin về công ty S, xin tham khảo Bản Hướng dẫn của Mẫu đơn 1120S.

 


Chủ đề 409 - Lời và Lỗ Vốn (Capital Gains and Losses)

Hầu như tất cả mọi thứ quý vị làm chủ và sử dụng cho mục đích cá nhân hoặc đầu tư là một tài sản vốn. Thí dụ như một ngôi nhà, đô` du`ng cá nhân như bàn ghế trong nhà, và cổ phiếu hoặc trái phiếu trong một tài khoản cá nhân. Khi một tài sản vốn được bán, sự khác biệt giữa căn bản của tài sản và số tiền bán là tiền lời hay lỗ vốn. Thông thường một căn bản của tài sản là tổn phí của nó, tuy nhiên, nếu quý vị nhận được tài sản như một món quà hoặc được thừa hưởng, xin tham khảo Chủ đề 703 để biết thông tin về căn bản của quý vị. Quý vị có lời nếu quý vị bán tài sản cao hơn căn bản của quý vị. Quý vị bị lỗ vốn nếu quý vị bán tài sản thấp hơn căn bản của quý vị. Tiền lỗ từ việc bán tài sản cá nhân sử dụng, chẳng hạn như nhà hay xe của quý vị, không được khấu trừ thuế.

Lời và lỗ vốn được phân loại thành dài hạn hay ngắn hạn. Nếu quý vị giữ tài sản lâu hơn một năm trước khi quý vị bán, lời hoặc lỗ vốn có tính cách dài hạn. Nếu quý vị giữ nó trong một năm hoặc ngắn hơn, lời hoặc lỗ vốn có tính cách ngắn hạn. Để ấn định quý vị đã giữ tài sản đó bao lâu, tính từ ngày sau ngày quý vị đã mua tài sản cho đến và kể cả ngày quý vị bán tài sản.

Tiền lời vốn và tiền lỗ vốn khấu trừ thuế được báo cáo trên Bảng khai D (Mẫu đơn 1040 ), Tiền Lời Vốn và Tiền Lỗ Vốn, và Mẫu 8949, Bán tài sản và các Sắp đặt khác với Tài sản. Nếu quý vị có một tiền lời vốn ròng, tiền lời này có thể bị đánh thuế ở thuế suất thấp hơn thuế suất thu nhập thông thường của quý vị. Danh từ "tiền lời vốn ròng" có nghĩa là số tiền lời vốn ròng dài hạn cho cả năm cao hơn tổng số tiền lỗ vốn ròng ngắn hạn của quý vị. Danh từ “tiền lời vốn ròng dài hạn” có nghĩa là tiền lời vốn dài hạn trừ đi tiền lỗ vốn dài hạn, trong đó kể cả mọi khoản lỗ vốn dài hạn chưa tính và tiền lỗ vốn dài hạn chuyển từ các năm trước. Thông thường, tiền lời vốn ròng được đánh thuế ở mức không cao hơn 15%. Tuy nhiên, trong những năm 2008 cho đến năm 2012, một số hoặc tất cả các tiền lời vốn ròng có thể được đánh thuế ở mức 0%, còn không thì nó bị đánh thuế ở mức giá thấp hơn.

Có ba trường hợp ngoại lệ mà tiền lời vốn có thể bị đánh thuế ở mức cao hơn 15%:

  1. Phần chịu thuế của tiền lời trong việc bán cổ phiếu doanh nghiệp nhỏ đủ điều kiện của Mục  1202 phải bị đánh thuế với tỷ lệ tối đa là 28%.
  2. Tiền lời vốn ròng từ việc bán đồ sưu tầm (chẳng hạn như tiền xu hoặc nghệ thuật) bị đánh  thuế với tỷ lệ tối đa 28%.
  3. Phần lời vốn ròng từ việc bán bất động sản theo Mục 1250 mà phải tính sau khi vượt quá khấu hao của phương pháp đường thẳng, bị đánh thuế với tỷ lệ tối đa 25%.

Ghi chú:  Quý vị sẽ trả thuế cho tiền lời vốn ròng ngắn hạn, ở mức thuế suất thu nhập thông thường của quý vị.

Nếu quý vị có một tiền lời vốn chịu thuế, quý vị có thể phải trả tiền thuế ước tính. Xin tham khảo Bản Công Bố 505, Khấu trừ Thuế và Thuế Ước tính, để biết thêm thông tin.

Nếu tiền lỗ vốn của quý vị cao hơn tiền lời vốn, số tiền lỗ mà có thể xin khai không được quá 3.000,00 đô la  (1.500,00 đô la nếu quý vị đã kết hôn mà khai thuế riêng rẽ) hoặc tổng số tiền lỗ ròng của quý vị như ghi trên hàng 16 của Mẫu đơn 1040 Bản khai D, Lợi nhuận và Lỗ Vốn. Nếu lỗ vốn ròng của quý vị nhiều hơn mức giới hạn này, quý vị có thể chuyển tiếp lỗ sang các năm sau. Xin sử dụng Bản Chiết tính Lỗ vốn Mang sang trong Bản Công Bố 550, Lợi Tức và Phí Tổn Đầu Tư, hoặc Hướng Dẫn về Bảng khai D (và Mẫu 8949)để tính toán số tiền mang sang.

Thông tin bổ sung về lời và lỗ vốn có sẵn trong Bản Công Bố 550, Thu Nhập và Chi phí Đầu tư, và  Bản Công Bố 544, Bán tài sản và các Sắp đặt khác với Tài sản. Nếu quý vị bán nhà chính của quý vị, xin tham khảo Chủ đề 701 và 703 và Bản Công Bố 523, Bán Nhà của Quý vị.

 


Chủ đề 410 - Hưu Bổng và Niên Kim (Pensions and Annuities)

Nếu quý vị nhận trợ cấp hưu trí theo hình thức lương hưu hoặc niên kim  từ một chương trình hưu trí của một chủ nhân đủ tiêu chuẩn, số tiền quý vị nhận được có thể phải chịu thuế hoàn toàn hoặc chịu thuế một phần.

Các trợ cấp An Sinh Xã Hội và hưu trí hỏa xa tương đương không được đề cập ở đây. Để biết thêm thông tin về những quyền lợi này, xin tham chiếu Chủ Đề 423.

Các khoản lương hưu hoặc niên kim mà quý vị nhận được là hoàn toàn chịu thuế nếu quý vị không có tổn phí trong hợp đồng vì bất cứ trường hợp nào sau đây áp dụng:

  • Quý vị không đóng góp gì hoặc không được coi là đóng góp gì cho lương hưu hoặc niên kim
  • Chủ nhân của quý vị không khấu lưu các khoản đóng góp từ tiền lương của quý vị, hoặc
  • Quý vị nhận được tất cả các khoản đóng góp miễn thuế của quý vị (căn bản của quý vị) trong những năm trước

Nếu quý vị đóng góp tiền sau thuế vào lương hưu hoặc niên kim của quý vị, các tiền này chịu thuế một phần. Quý vị sẽ không phải trả thuế trên phần tiền trả mà quý vị đã đóng vào sau thuế. Số tiền này là chi phí của quý vị trong chương trình hoặc đầu tư, và bao gồm số tiền chủ nhân của quý vị đóng góp đã được chịu thuế cho quý vị khi đóng góp. Lương hưu một phần chịu thuế được tính thuế theo Điều lệ Tổng quát hoặc Phương pháp Giản thể. Để biết thêm thông tin về các Điều lệ Tổng quát và Phương pháp Giản thể, xin tham chiếu Chủ Đề 411. Nếu việc trả lương hưu hay niên kim của quý vị bắt đầu sau ngày 18 tháng Mười Một, 1996, thông thường, quý vị phải sử dụng Phương pháp Giản thể để ấn định bao nhiêu tiền niên kim của quý vị phải chịu thuế và bao nhiêu được miễn thuế.

Nếu quý vị được hưởng lương hưu hoặc niên kim trước khi được 59 tuổi rưỡi, quý vị có thể phải chịu thêm 10% thuế vì phân phối sớm. Thuế bổ túc này không áp dụng cho bất cứ phần nào của một sự phân phối được miễn thuế. Ngoài ra còn có các trường hợp ngoại lệ tổng quát cho thuế bổ túc, kể cả:

  • Sự phân phối được thực hiện như là một phần của một loạt các lần trả tiền định kỳ đáng kể từ  một chương trình đủ tiêu chuẩn bắt đầu sau khi quý vị rời công việc
  • Sự phân phối được thực hiện bởi vì quý vị đang bị tàn tật hoàn toàn và vĩnh viễn
  • Sự phân phối được thực hiện vào ngày hoặc sau cái chết của người tham gia chương trình  hoặc người chủ hợp đồng, và
  • Sự phân phối được thực hiện từ một chương trình hưu trí đủ tiêu chuẩn sau khi quý vị rời công  việc và trong năm hoặc sau năm quý vị đã đạt đến tuổi 55

Đối với các trường hợp ngoại lệ khác về thuế, xin tham chiếu Ấn Phẩm 575, Lợi tức Hưu bổng và Niên kim.

Nếu quý vị là một người sống sót hoặc người thụ hưởng của một chương trình lương hưu hoặc niên kim, xin tham chiếu Ấn Phẩm 575 về các quy định về lợi tức và thuế.

Phần lương hưu hoặc niên kim chịu thuế, thông thường, phải chịu khấu lưu thuế lợi tức liên bang.

Quý vị có thể chọn không khấu lưu lợi tức thuế khỏi tiền lương hưu hoặc niên kim của quý vị (trừ khi chúng đủ tiêu chẩn được phân phối chuyển đổi) hoặc muốn ấn định thuế được khấu lưu như thế nào. Nếu như vậy, xin cung cấp cho người trả tiền Mẫu W-4P, Phiếu Khấu lưu Tiền trả Lương hưu hoặc Niên kim, hoặc một mẫu tương tự được cung cấp bởi người trả tiền. Khấu lưu từ các khoản tiền trả định kỳ của một lương hưu hoặc niên kim, thông thường, được tính theo cùng một cách như lương bổng và tiền công. Nếu quý vị không nộp phiếu khấu lưu, người trả tiền phải khấu lưu thuế như là quý vị có kết hôn và yêu cầu ba khoản tiền tạm thu. Nếu quý vị không cung cấp cho người trả tiền số an sinh xã hội đúng của quý vị, thuế sẽ được khấu trừ như nếu quý vị là người độc thân và không yêu cầu khoản tiền tạm thu nào.

Nếu quý vị trả thuế của quý vị qua việc khấu lưu thuế và khấu lưu không đủ thuế, quý vị cũng cần phải trả thuế ước tính để biết chắc quý vị không trả thiếu thuế. Để biết thêm thông tin về việc tăng tiền khấu lưu của quý vị, chiết tính tiền trả thuế ước tính, và các hậu quả của việc khấu lưu không đúng số tiền thuế, xin tham chiếu Ấn Phẩm 505, Khấu lưu Thuế và Thuế Ước tính.

Quy định đặc biệt sẽ áp dụng cho một số khoản tiền trả không định kỳ từ các chương trình hưu trí đủ điều kiện. Để biết thông tin về trả thuế đặc biệt đối với sự phân phối tiền trả một lần, xin tham chiếu Chủ Đề 412. Nếu một sự phân phối chuyển đổi đủ điều kiện được trả cho quý vị, người trả tiền phải khấu trừ 20% của tiền này, trừ khi quý vị chọn sự đầu tư tuần hoàn trực tiếp. Để biết thêm thông tin, xin tham chiếu Chủ Đề 413.

 


Chủ đề 411 - Hưu Bổng- Điều Lệ Tổng Quát và Phương Thức Đơn Giản (Pensions - The General Rule and the Simplified Method)

Nếu quý vị đã đóng góp tiền sau thuế cho chương trình lương hưu hoặc niên kim của quý vị, quý vị có thể trừ một phần tiền lương hưu hoặc niên kim của quý vị khỏi tiền lợi tức của quý vị. Quý vị phải tính phần được miễn thuế này khi việc trả tiền mới bắt đầu. Số tiền không chịu thuế sẽ giữ nguyên như vậy cho mỗi năm, dù là số tiền trả thay đổi.

Nếu quý vị bắt đầu nhận tiền trả niên kim từ một chương trình hưu trí đủ tiêu chuẩn sau Ngày 18 Tháng Mười Một, 1996, thông thường, quý vị sử dụng Phương pháp Giản thể để tính phần miễn thuế của các khoản tiền trả. Một chương trình hưu trí đủ tiêu chuẩn là một chương trình nhân viên đủ điều kiện, một chương trình niên kim của nhân viên, hoặc một chương trình niên kim ẩn thuế đủ điều kiện. Theo Phương pháp Giản thể, quý vị tính phần chịu thuế và phần miễn thuế của tiền trả niên kim của quý vị bằng cách điền Bản Chiết tính Phương pháp Giản thể trong Bản Hướng Dẫn của Mẫu 1040A  hoặc Bản Hướng Dẫn của Mẫu 1040A hoặc trong Ấn Phẩm 575, Lợi tức Hưu bổng và Niên kim. Để biết thêm thông tin về Phương pháp Giản thể, xin tham chiếu Ấn Phẩm 575, hoặc nếu quý vị nhận được trợ cấp hưu trí Dịch vụ Dân sự Hoa Kỳ, xin tham chiếu Ấn Phẩm 721, Bản Chỉ dẫn về Thuế cho Trợ cấp Hưu trí Dịch vụ Dân sự Hoa Kỳ.

Nếu quý vị bắt đầu được trả tiền niên kim hàng năm từ một chương trình hưu trí đủ tiêu chuẩn sau Ngày 1 Tháng Bảy, 1986 và trước Ngày 19 Tháng Mười Một, 1996, thông thường, quý vị có thể chọn sử dụng Phương pháp Giản thể hoặc Điều lệ Tổng quát để tính phần miễn thuế của tiền trả. Nếu quý vị nhận được tiền trả niên kim từ một chương trình hưu trí không đủ tiêu chuẩn, quý vị phải sử dụng Điều lệ Tổng quát. Theo Điều lệ Tổng quát, quý vị phải tính phần chịu thuế và phần miễn thuế của tiền trả niên kim bằng các bảng tuổi thọ ấn định bởi Sở Thuế Vụ. Nếu trả một lệ phí, IRS sẽ tính phần miễn thuế của tiền trả niên kim cho quý vị. Để biết thêm thông tin, xin tham chiếu Ấn Phẩm 939, Điều lệ Tổng quát cho Hưu bổng và Niên kim.

 


Chủ đề 412 - Rút trọn một lần (Lump-Sum Distributions)

Nếu quý vị nhận được một sự phân phối trọn một lần từ một chương trình hưu trí đủ điều kiện hoặc một niên kim hưu trí đủ điều kiện và quý vị sinh ra trước Ngày 2 Tháng Giêng, 1936, quý vị có thể lựa các phương pháp tùy chọn để tính thuế của sự phân phối. Những phương pháp tùy chọn này chỉ có thể được chọn một lần sau năm 1986 cho bất cứ người nào tham gia chương trình đủ tiêu chuẩn.

Sự phân phối trọn một lần là sự phân phối hoặc tiền trả, nội trong một năm thuế, của nguyên số tiền của người tham gia trong các chương trình hưu trí của chủ nhân, chia sẻ tiền lời, hoặc phần thưởng cổ phiếu. Tất cả các trương mục của người tham gia trong các chương trình hưu trí của chủ nhân, chia sẻ tiền lời, hoặc phần thưởng cổ phiếu phải được trả để được coi là phân phối trọn một lần.

Nếu sự phân phối trọn một lần đủ điều kiện, quý vị có thể chọn coi các phần tiền trả từ sự tham gia tích cực của quý vị trong chương trình sử dụng một trong năm lựa chọn sau đây:

  1. Báo cáo phần tiền phân phối từ sự tham gia trước năm 1974 như tiền lời vốn (nếu quý vị đủ  điều kiện) và phần tiền phân phối từ sự tham gia sau năm 1973 như là lợi tức bình thường.
  2. Báo cáo phần tiền phân phối từ sự tham gia trước năm 1974 như tiền lời vốn (nếu quý vị đủ  điều kiện) và sử dụng tùy chọn thuế 10 năm để tính thuế trên phần phân phối từ sự tham gia sau  năm 1973 (nếu quý vị đủ điều kiện).
  3. Sử dụng tùy chọn thuế 10 năm để tính thuế trên tổng số tiền chịu thuế (nếu quý vị đủ điều  kiện).
  4. Chuyển đổi tất cả hoặc một phần của sự phân phối. Phần chuyển đổi hiện không phải đóng  thuế. Báo cáo tất cả phần nào không chuyển đổi như là lợi tức thường.
  5. Báo cáo nguyên phần chịu thuế nhu là lợi tức thường.

Quý vị sẽ nhận được một Mẫu 1099-R từ người trả tiền phân phối trọn một lần, cho thấy tiền phân phối chịu thuế của quý vị và số tiền được coi là tiền lời vốn. Nếu quý vị không nhận được Mẫu 1099-R trước hoặc vào Ngày 31 Tháng Giêng, quý vị nên liên lạc với người trả tiền phân phối trọn một lần của quý vị.

Quý vị có thể trì hoãn trả thuế đối với tất cả hoặc một phần của sự phân phối trọn một lần bằng cách yêu cầu chủ nhân trực tiếp chuyển đổi phần chịu thuế vào một chương trình Sắp xếp Hưu trí Cá nhân (IRA) hay một chương trình hưu trí đủ điều kiện. Quý vị cũng có thể trì hoãn thuế đối với một sự phân phối trả cho quý vị bằng cách chuyển đổi số tiền chịu thuế vào một IRA trong vòng 60 ngày sau khi nhận được tiền phân phối. Tuy nhiên một sự chuyển đổi sẽ loại bỏ khả năng đối xử thuế một cách đặc biệt trong tương lai đối với sự phân phối. Xin tham chiếu Chủ Đề 413 để biết thêm thông tin về sự chuyển đổi. Sự khấu lưu thuế lợi tức bắt buộc 20% áp dụng đối với đa số các sự phân phối chịu thuế trả trực tiếp cho quý vị một khoản tiền trọn một lần từ chương trình hưu trí của chủ nhân bất kể là quý vị có dự trù chuyển đổi số tiền chịu thuế nội trong 60 ngày.

Để có thêm thông tin về các điều lệ về sự phân phối trọn một lần, kể cả thông tin về sự phân phối không đủ điều kiện cho sự lựa chọn tiền lời vốn 20% hoặc sự tùy chọn thuế 10 năm, xin tham chiếu Ấn Phẩm 575, Lợi tức Hưu bổng và Niên kim, và bản Hướng dẫn của Mẫu 4972, Trả thuế cho sự Phân phối Trọn một lần. Thông tin cũng có sẵn trong Ấn Phẩm 17, Thuế Lợi tức Liên bang của Quý vị.

 


Chủ đề 413 - Chuyển đổi từ Chương Trình Hồi Hưu (Rollovers from Retirement Plans)

Một sự chuyển đổi xảy ra khi quý vị rút tiền mặt hoặc tài sản khác từ một chương trình hưu trí đủ điều kiện và đóng góp tất cả hoặc một phần của tiền này trong vòng 60 ngày vào một chương trình hưu trí đủ điều kiện. Sự giao dịch này không phải chịu thuế nhưng phải báo cáo trên Đơn Khai Thuế Liên Bang của quý vị. Quý vị có thể chuyển đổi đa số các sự phân phối từ một chương trình hưu trí đủ điều kiện ngoại trừ:

  1. Phần phân phối không chịu thuế, chẳng hạn như tiền đóng góp sau thuế của quý vị cho một  chương trình hưu trí (trong một số trường hợp, sự đóng góp sau thuế có thể được chuyển đổi),
  2. Một sự phân phối mà là một lần trong một loạt các lần trả tiền dựa trên tuổi thọ của quý vị,  hoặc tuổi thọ chung của quý vị và người hưởng lợi của quý vị, hoặc được trả tiền trong khoảng  thời gian mười năm trở lên,
  3. Một sự phân phối tối thiểu bắt buộc,
  4. Một sự phân phối vì đời sống khó khăn,
  5. Cổ tức trên chứng khoán của chủ nhân, hoặc
  6. Chi phí bảo hiểm nhân thọ.

Có thêm ngoại lệ khác đối với một số tiền vay nợ và sự phân phối điều chỉnh.

Bất cứ số tiền chịu thuế nào của sự phân phối mà không chuyển đổi phải được tính vào lợi tức trong năm của sự phân phối.

Nếu sự phân phối được trả cho quý vị, quý vị có 60 ngày kể từ ngày quý vị nhận được để chuyển đổi vào một chương trình hưu trí đủ điều kiện khác. Bất cứ phân phối chịu thuế nào trả từ một chương trình hưu trí bảo trợ bởi chủ nhân cho quý vị phải chịu khấu lưu bắt buộc là 20%, ngay cả khi quý vị có ý định để chuyển đổi tiền đó sau này. Nếu quý vị chuyển đổi, và muốn trì hoãn trả thuế đối với nguyên phần chịu thuế, quý vị sẽ phải bỏ thêm tiền từ các nguồn khác bằng với số tiền đã khấu lưu. Quý vị có thể chọn để chủ nhân của quý vị chuyển một sự phân phối trực tiếp đến một chương trình hưu trí đủ điều kiện khác hoặc vào một IRA. Theo sự tùy chọn này, sự khấu lưu bắt buộc 20% sẽ không áp dụng.

Thông thường nếu quý vị dưới 59 tuổi rưỡi vào lúc phân phối, phần tiền chịu thuế mà không chuyển đổi có thể bị đánh thuế thêm 10% trên các sự phân phối trước đây, trừ khi áp dụng một ngoại lệ. Đối có một danh sách các ngoại lệ, xin tham chiếu Chủ Đề 558. Một số phân phối từ một IRA ĐƠN GIẢN (IRA SIMPLE) sẽ phải chịu một khoản thuế thêm là 25%. Để có thêm thông tin về IRA ĐƠN GIẢN, xin tham chiếu Ấn Phẩm 590, Trương mục Hưu trí Cá nhân.

Để có thêm thông tin về chuyển đổi và chuyển giao, xin tham chiếu Ấn Phẩm 575, Lợi tức Hưu bổng và Niên kim.

 


Chủ đề 414 - Lợi Tức và Phí Tổn Cho Thuê (Rental Income and Expenses)

Thông thường, tiền mặt hoặc giá phải chăng trên thị trường của tài sản mà quý vị được trả cho việc sử dụng bất động sản hoặc tài sản cá nhân, phải chịu thuế như lợi tức cho thuê. Quý vị thường có thể khấu trừ các chi phí cho thuê tài sản vào lợi tức cho thuê của quý vị. Lợi tức và chi phí liên quan đến việc cho thuê bất động sản thường được báo cáo trên Mẫu 1040, Bảng khai E. Nếu quý vị cung cấp các dịch vụ đáng kể mà chủ yếu là để gây thuận tiện cho người thuê nhà của quý vị, thì quý vị báo cáo lợi tức và chi phí của quý vị trên Mẫu 1040, Bảng khai C,. Lợi tức và chi phí liên quan đến việc cho thuê tài sản cá nhân, được báo cáo trên Mẫu 1040.

Đa số các cá nhân hoạt động trên căn bản tiền mặt, có nghĩa là họ tính lợi tức cho thuê như là lợi tức khi tiền thực sự hoặc được coi là nhận được, và khấu trừ các chi phí của họ cùng lúc họ được trả tiền. Một số loại lợi tức rõ ràng là:

  • Các khoản tiền trả để hủy bỏ một hợp đồng thuê - Nếu người thuê nhà trả tiền cho quý vị để  hủy bỏ một hợp đồng thuê, số tiền này cũng là lợi tức cho thuê và được báo cáo trong năm mà  quý vị nhận được tiền đó.
  • Tiền thuê trả trước - Thông thường quý vị tính tiền thuê trả trước như là lợi tức trong năm quý  vị nhận được bất kể thời gian tiền này bao trả hoặc phương pháp kế toán mà quý vị sử dụng.
  • Chi phí trả bởi người thuê nhà - Nếu người thuê nhà vị trả bất cứ chi phí nào của quý vị,  những khoản tiền này được coi là lợi tức cho thuê. Quý vị có thể được phép khấu trừ các chi  phí nếu chúng được coi là chi phí có thể khấu trừ được.
  • Tiền đặt cọc bảo đảm - Đừng tính tiền đặt cọc bảo đảm với lợi tức của quý vị nếu quý vị có thể  phải trả lại cho người thuê vào cuối hợp đồng cho thuê. Nhưng nếu quý vị giữ lại một phần hoặc  tất cả khoản tiền đặt cọc bảo đảm trong bất cứ năm nào vì người thuê làm hư hỏng tài sản hoặc  không tuân theo các điều khoản của hợp đồng cho thuê nhà, số tiền này là lợi tức chịu thuế trong năm quyết định này được thực hiện. Nếu tiền đặt cọc là để được sử dụng như tiền thuê tháng  cuối cùng của người thuê nhà, quý vị phải tính tiền lợi tức này khi quý vị nhận được, chứ không  phải là khi quý vị áp dụng nó vào tiền thuê tháng cuối cùng.

Một số thí dụ về các chi phí có thể được khấu trừ khỏi lợi tức cho thuê của quý vị là:

  • Sự khấu hao - Quý vị bắt đầu giảm giá bất động sản cho thuê của quý vị khi quý vị bắt đầu cho  thuê. Quý vị có thể thu hồi một số hoặc tất cả các chi phí mua và chi phí sửa sang của quý vị  bằng cách sử dụng Mẫu 4562 (để báo cáo khấu hao) bắt đầu trong năm đầu tiên cho thuê tài  sản, và bắt đầu bất cứ năm nào quý vị sửa sang hoặc thêm đồ đạc.
  • Sửa chữa -  Sửa chữa chỉ giúp tài sản của quý vị ở tình trạng làm việc tốt nhưng không làm  tăng thêm giá trị của tài sản.
  • Chi phí hoạt động
  • Thất thu tiền thuê - Nếu quý vị là một nộp thuế trên căn bản tiền mặt, quý vị không có thể khấu  trừ tiền thuê bị thất thu như là khoản chi phí vì quý vị không tính những tiền thuê này như lợi tức  cho thuê.

Để có thông tin về sự khấu hao, xin tham chiếu Ấn Phẩm 946, Làm Thế nào để Khấu hao Tài sản. Chi phí sửa chữa, chẳng hạn như vật liệu, thường thì khấu trừ được. Để xem cuộc thảo luận về sự khác biệt giữa sửa chữa và sửa sang, xin tham chiếu Ấn Phẩm 527, Tài sản Gia cư cho Thuê (kể cả Cho Thuê Nhà Nghỉ).

Có những điều lệ đặc biệt về việc cho thuê bất động sản mà quý vị cũng sử dụng như là nhà chính hoặc nhà nghỉ của quý vị. Để có thông tin về lợi tức từ các việc thuê này, hoặc cho thuê với một số tiền ít hơn giá trị thị trường phải chăng, xin tham chiếu Chủ Đề 415.

Nếu quý vị không sử dụng tài sản cho thuê như là nhà ở và quý vị cho thuê để lấy lời, sự chi phí cho thuê được khấu trừ có thể cao hơn lợi tức cho thuê gộp của quý vị, với một số giới hạn nhất định. Để có thông tin về những giới hạn này, xin tham chiếu Chủ Đề 425.

Để có thêm thông tin về lợi tức và các chi phí cho thuê, kể cả giới hạn thất thu vì đầu tư thụ động, xin tham chiếu Ấn Phẩm 527.

 


Chủ đề 415 - Thuê Tư Gia và Cơ Sở Nghỉ Mát (Renting Residential and Vacation Property

Nếu quý vị nhận được lợi tức cho thuê từ sự cho thuê một đơn vị gia cư, chẳng hạn như một ngôi nhà hoặc một căn hộ, quý vị có thể khấu trừ một số các chi phí. Những chi phí này, có thể bao gồm cả tiền lãi mua nhà, thuế bất động sản, thiệt hại tai biến, bảo trì, tiện ích, bảo hiểm, và khấu hao, sẽ giảm số lợi tức cho thuê bị đánh thuế. Thông thường quý vị sẽ báo cáo lợi tức và chi phí trên Mẫu 1040 và Mẫu 1040, Bảng khai E. Nếu quý vị cho thuê để có tiền lời và không sử dụng đơn vị gia cư như một nơi cư trú cá nhân, thì chi phí cho thuê được khấu trừ có thể cao hơn lợi tức cho thuê gộp của quý vị. Tuy nhiên thiệt hại cho thuê của quý vị, thông thường sẽ bị hạn chế bởi các điều lệ "rủi ro" và/hoặc các điều lệ về thiệt hại đầu tư thụ động. Để có thông tin về những giới hạn này, xin tham chiếu  Ấn Phẩm 925, Các điều lệ về Đầu tư Thụ động và về Rủi ro.

Nếu quý vị cho thuê một đơn vị gia cư cho những người khác mà quý vị cũng sử dụng như một nơi cư trú cá nhân, thì chi phí cho thuê được khấu trừ có thể bị giới hạn. Quý vị được coi là sử dụng đơn vị gia cư như một nơi cư trú cá nhân nếu quý vị sử dụng nó cho mục đích cá nhân trong năm thuế trong một thời gian lớn hơn một trong hai điều: 14 ngày hoặc 10% của tổng số ngày thuê cho những người khác ở một mức giá cho thuê phải chăng. Cũng có thể là quý vị sử dụng nhiều hơn một đơn vị gia cư như là một nơi cư trú cá nhân trong năm. Thí dụ, nếu quý vị sống trong ngôi nhà chính của quý vị trong 11 tháng, ngôi nhà của quý vị là một đơn vị gia cư được sử dụng như là một nơi cư trú cá nhân. Nếu quý vị sống trong nhà nghỉ mát của quý vị trong 30 ngày còn lại trong năm, thì nhà nghỉ của quý vị cũng là một đơn vị gia cư được sử dụng như là một nơi cư trú cá nhân, ngoại trừ quý vị cho thuê nhà nghỉ cho người khác với một giá cho thuê phải chăng trong 300 ngày hoặc nhiều hơn trong năm.

Một ngày sử dụng cá nhân của một đơn vị gia cư là bất cứ ngày nào mà đơn vị đó được sử dụng bởi:

  • Quý vị hoặc bất cứ người nào khác có quyền lợi trong đó, trừ khi quý vị cho thuê quyền lợi của  quý vị cho một chủ nhân khác như nhà chính của mình dựa theo một hợp đồng tài trợ sở hữu  chung
  • Một thành viên trong gia đình quý vị hay trong một gia đình của bất cứ người nào có quyền lợi  trong đó, trừ khi thành viên gia đình đó sử dụng đơn vị này như nhà chính của mình và trả một  giá công thuê phải chăng
  • Bất cứ ai theo một hợp đồng cho phép quý vị sử dụng một đơn vị gia cư khác
  • Bất cứ ai trả ít hơn giá thuê phải chăng

Nếu quý vị sử dụng đơn vị gia cư cho cả hai mục đích cho thuê và cá nhân, quý vị thường phải phân chia tổng chi phí giữa việc sử dụng cho thuê và sử dụng cá nhân dựa trên số ngày sử dụng cho mỗi mục đích. Tuy nhiên, quý vị sẽ không thể khấu trừ chi phí cho thuê của quý vị vượt quá giới hạn lợi tức cho thuê gộp (lợi tức cho thuê gộp của quý vị trừ phần cho thuê của tiền lãi mua nhà, thuế bất động sản, và thiệt hại thiên tai và các chi phí cho thuê như phí môi giới và chi phí quảng cáo). Tuy nhiên, quý vị có thể chuyển đổi một số các chi phí cho thuê này cho năm tiếp theo, tùy thuộc vào những giới hạn lợi tức cho thuê gộp trong năm đó. Nếu quý vị liệt kê các khoản khấu trừ của quý vị trên Mẫu 1040, Bảng khai A, quý vị vẫn có thể có thể khấu trừ phần tiền lãi mua nhà, thuế tài sản, và các thiệt hại thiên tai trong bảng khai đó.

Có một điều lệ đặc biệt nếu quý vị sử dụng một đơn vị gia cư như một nơi cư trú cá nhân và cho thuê ít hơn 15 ngày thì trong trường hợp này, xin đừng báo cáo lợi tức cho thuê và không khấu trừ các chi phí nào như là chi phí cho thuê.

Một điều lệ đặc biệt khác được áp dụng nếu quý vị cho thuê một phần nhà của quý vị cho chủ nhân của quý vị và cung cấp dịch vụ cho chủ nhân của quý vị ở nơi cho thuê đó. Trong trường hợp này, xin báo cáo lợi tức cho thuê, nhưng không khấu trừ các chi phí như là chi phí cho thuê.

Để có thêm thông tin về việc cho thuê nhà ở, xin tham chiếu Ấn Phẩm 527, Tài sản Gia cư cho Thuê (kể cả Cho Thuê Nhà Nghỉ).

 


Chủ đề 418 - Đền Bù Thất Nghiệp (Unemployment Compensation)

Bồi thường thất nghiệp được tính vào lợi tức gộp. Quý vị phải báo cáo bồi thường thất nghiệp trên hàng 19 của Mẫu 1040, hàng 13 của Mẫu 1040A, hoặc hàng 3 của Mẫu 1040EZ.

Bồi thường thất nghiệp thường bao gồm bất cứ khoản tiền nào nhận được theo pháp luật bồi thường thất nghiệp của Hoa Kỳ hoặc của một tiểu bang. Nó bao gồm các quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp tiểu bang và quyền lợi trả cho quý vị bởi một tiểu bang hay Quận hạt Columbia từ Quỹ Ủy thác Thất nghiệp Liên bang. Nó cũng bao gồm quyền lợi bồi thường thất nghiệp hỏa xa, quyền lợi tàn tật trả như là một thay thế cho bồi thường thất nghiệp, trợ cấp điều chỉnh thương mại theo Đạo Luật Thương Mại năm 1974, và trợ cấp thất nghiệp theo Đạo Luật Trợ cấp Thiên tai và Hỗ trợ Khẩn cấp năm 1974. Bồi thường thất nghiệp không bao gồm bồi thường tai nạn lao động.

Nếu quý vị nhận tiền bồi thường thất nghiệp trong năm, quý vị sẽ nhận được Mẫu 1099-G cho thấy số tiền quý vị được trả. Tiền thất nghiệp nhận được trong năm phải được tính vào lợi tức của quý vị, ngoại trừ quý vị đã đóng góp vào quỹ. Xin xem dưới đây.

Nếu quý vị nhận được tiền thất nghiệp, quý vị có thể phải trả tiền thuế ước tính theo tam cá nguyệt. Tuy nhiên, quý vị có thể chọn để khấu lưu tiền thuế lợi tức liên bang. Để biết thêm thông tin, xin tham chiếu Mẫu W-4V, Yêu cầu Khấu lưu Tự nguyện.

Trợ cấp thất nghiệp bổ túc nhận được từ một quỹ tài trợ của công ty không được coi là tiền bồi thường thất nghiệp cho mục đích này. Những trợ cấp này bị khấu lưu thuế lợi tức giống như tiền lương. Tiền này cũng bị tính thuế an sinh xã hội và thuế y tế Medicare nữa. Trợ cấp thất nghiệp bổ túc được báo cáo cho quý vị trên Mẫu W-2. Để biết thêm thông tin về quyền lợi thất nghiệp bổ túc, xin xem Ấn Phẩm 15-A, mục 5.

Trợ cấp thất nghiệp từ một quỹ tư nhân (hoặc, trong một số trường hợp, công quỹ) mà quý vị tự nguyện đóng góp chỉ bị tính thuế nếu số tiền quý vị nhận được nhiều hơn tổng số tiền quý vị đóng vào quỹ. Số tiền chịu thuế này không phải là bồi thường thất nghiệp; nó được báo cáo như là lợi tức khác trên Mẫu 1040.

Để biết thêm thông tin, xin xem Trợ cấp Thất nghiệp trong Ấn Phẩm 525.

 


Chủ đề 419 - Lợi Tức và Phí Tổn Sòng Bài (Gambling Income and Expenses)

Các điều lệ sau đây áp dụng cho các con bạc thường. Tiền thắng cờ bạc là hoàn toàn chịu thuế và phải được báo cáo trên đơn khai thuế của quý vị. Quý vị phải Mẫu 1040 và bao gồm tất cả các tiền thắng của quý vị. Lợi tức cờ bạc bao gồm, nhưng không giới hạn, tiền thắng từ xổ số, rút số, đua ngựa, và sòng bạc. Nó bao gồm tiền mặt thắng và giá trị thị trường phải chăng của các giải thưởng như xe hơi và các chuyến du lịch. Để biết thêm thông tin, xin tham chiếu Ấn Phẩm 525, Lợi tức Chịu Thuế và Không Chịu Thuế.  

Người trả tiền phải cấp cho quý vị một Mẫu W-2G nếu quý vị nhận được một số tiền thắng cờ bạc hoặc nếu quý vị có bất cứ tiền thắng cờ bạc nào có thể bị khấu lưu thuế lợi tức Liên bang. Tiền thắng cờ bạc phải được báo cáo trên Mẫu 1040, kể cả tiền thắng không bị khấu lưu. Ngoài ra, quý vị có thể phải trả thuế ước tính trên tiền thắng cờ bạc của quý vị. Để có thông tin về khấu lưu tiền thắng cờ bạc, xin tham chiếu Ấn Phẩm 505,  Khấu Lưu Thuế và Thuế Ước Tính.

Quý vị chỉ có thể khấu trừ các thua lỗ cờ bạc nếu quý vị liệt kê các khoản khấu trừ. Tuy nhiên, số lượng thua lỗ quý vị khấu trừ không được nhiều hơn số tiền lợi tức cờ bạc báo cáo trên đơn của quý vị. Xin khai thua lỗ cờ bạc của quý vị trên Mẫu 1040, Bảng khai A, như là một khoản khấu trừ linh tinh mà không bị giới hạn 2%.

Điều quan trọng là giữ một cuốn nhật ký chính xác hoặc hồ sơ tương tự của tiền thắng cờ bạc và thua lỗ của quý vị. Để khấu trừ các khoản lỗ của quý vị, quý vị phải cung cấp được các biên lai, vé, bản ghi hay hồ sơ khác cho thấy số tiền thắng và thua lỗ của quý vị. Xin tham chiếu Ấn Phẩm 529, Các Khấu trừ Linh tinh, để biết thêm thông tin.

 


Chủ đề 420 - Lợi tức từ Trao đổi (Bartering Income)

Sự trao đổi xảy ra khi quý vị trao đổi hàng hoá, dịch vụ mà không có trao đổi tiền. Một thí dụ về sự trao đổi này là một thợ sửa ống nước làm công việc sửa chữa cho một nha sĩ để đổi lấy các dịch vụ chữa răng. Quý vị phải tính vào lợi tức gộp trong năm nhận được giá trị thị trường phải chăng của hàng hoá và dịch vụ nhận được để đổi với hàng hoá, dịch vụ mà quý vị cung cấp.

Thông thường, quý vị báo cáo lợi tức này trên Mẫu 1040, Bảng khai C, Tiền lời hoặc Tiền Lỗ Kinh doanh. Nếu quý vị không báo cáo lợi tức , điều chỉnh đơn của quý vị bằng cách nộp một Mẫu 1040X. Xin tham chiếu Chủ Đề 308 về Thông tin Điều chỉnh Đơn khai.

Một cơ sở trao đổi hoặc một câu lạc bộ trao đổi là bất cứ tổ chức nào với các thành viên hoặc khách hàng hoặc các người có ký hợp đồng với nhau (hoặc với cơ sở trao đổi) để cùng nhau đổi chác hoặc trao đổi tài sản hay dịch vụ. Danh từ này không bao gồm sự sắp đặt để cung cấp độc quyền việc trao đổi không chính thức các dịch vụ giống nhau trên một căn bản phi thương mại.

Internet đã cung cấp một phương tiện truyền thông cho sự phát triển mới trong kỹ nghệ cơ sở trao đổi. Sự tăng trưởng này đưa đến các lời nhắc nhở sau đây: Các cơ sở trao đổi phải nộp Mẫu 1099-B cho tất cả các giao dịch trừ khi họ đáp ứng một số ngoại lệ. Xin tham chiếu Cơ Sở Trao Đổi trong Ấn Phẩm 525, Lợi tức Chịu Thuế và Không Chịu Thuế, và bản hướng dẫn cho Mẫu 1099-B để có thêm thông tin về đề tài này. Người nào không có hợp đồng với cơ sở trao đổi nhưng có trao đổi dịch vụ, thì không phải nộp Mẫu 1099-B. Tuy nhiên, họ có thể phải nộp Mẫu 1099-MISC. Nếu quý vị ở trong một doanh nghiệp hoặc nghề thương mại, quý vị có thể khấu trừ một số chi phí phát sinh khi thực hiện công việc được trao đổi. Nếu quý vị trao đổi tài sản hoặc dịch vụ qua một sơ sở trao đổi trao đổi, quý vị sẽ nhận được một Mẫu 1099-B Mẫu 1099-B, Tiền thu từ Giao dịch Môi giới và Cơ sở Trao đổi. Sở Thuế Vụ (IRS) cũng sẽ nhận được các thông tin tương tự.

Xin vui lòng tham chiếu trang Trao Đổi của chúng tôi để biết thêm thông tin về lợi tức trao đổi và cơ sở trao đổi.

Nếu quý vị nhận được lợi tức từ việc trao đổi, quý vị có thể phải trả tìền thuế ước tính. Xin tham chiếu Ấn Phẩm 525, Lợi tức Chịu Thuế và Không Chịu Thuế, để biết thêm thông tin.

 


Chủ đề 421 - Học Bổng và Trợ Cấp Nghiên Cứu Sinh (Scholarship and Fellowship Grants)

Học bổng thường là một số tiền được trả hoặc cho một học sinh được hưởng tại một cơ sở giáo dục với mục đích đi học. Trợ cấp nghiên cứu sinh thường là một số tiền được trả cho một cá nhân với mục đích để họ nghiên cứu.

Nếu quý vị nhận được một học bổng hoặc trợ cấp nghiên cứu sinh, nguyên bộ hoặc một phần của số tiền quý vị nhận được có thể được miễn thuế.

Các học bổng và trợ cấp nghiên cứu sinh được coi là các khoản miễn thuế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

  • Quý vị là một thí sinh muốn đạt một bằng cấp tại một cơ sở giáo dục mà ở đó có một ban giảng  viên và chương trình giảng dạy thông thường và thường có một đoàn thể sinh viên tham dự tại  nơi mà ở đó có các hoạt động giáo dục; và
  • Các khoản tiền mà quý vị nhận được như là một học bổng hoặc trợ cấp nghiên cứu sinh được  sử dụng cho học phí và lệ phí cần thiết để ghi danh hoặc tham gia học tập tại cơ sở giáo dục,  hoặc lệ phí, sách vở, vật tư, và dụng cụ cần thiết cho các khóa học tại cơ sở giáo dục.

Quý vị phải tính vào lợi tức gộp các số tiền được sử dụng cho các chi phí phụ, chẳng hạn như ăn ở, di chuyển, và các dụng cụ tùy chọn, và thường các số tiền nhận được cho sự giảng dạy, nghiên cứu, hoặc các dịch vụ khác phải làm như là điều kiện để được học bổng hoặc trợ cấp nghiên cứu sinh. Ngoài ra, quý vị phải tính vào lợi tức bất cứ phần nào của học bổng hoặc trợ cấp nghiên cứu sinh được coi là tiền trả cho các dịch vụ.

Tuy nhiên, quý vị không cần phải tính vào lợi tức gộp bất cứ số tiền quý vị nhận được cho các dịch vụ đòi hỏi của Chương trình Học Bổng Đoàn Dịch Vụ Y Tế Quốc gia hoặc Nghiên Cứu Sinh Chuyên gia Y tế Quân đội và Chương trình Hỗ trợ Tài chánh.

Nếu bất cứ phần nào của học bổng hoặc trợ cấp nghiên cứu sinh có thể bị thuế, quý vị có thể phải trả tiền thuế ước tính. Để biết thêm thông tin, xin tham chiếu Ấn Phẩm 970, Quyền lợi Thuế cho sự Giáo dục.

 


Chủ đề 423 - Quyền Lợi An Sinh Xã Hội và Hồi Hưu Hỏa Xa Tương Đương (Social Security and Equivalent Railroad Retirement Benefits)

Nếu lợi tức duy nhất mà quý vị nhận được trong năm tính thuế là tiền an sinh xã hội hoặc tiền hưu trí hỏa xa tương đương, các quyền lợi của quý vị có thể không bị đánh thuế và quý vị có thể không phải nộp đơn khai thuế.

Nếu quý vị cũng nhận được lợi tức khác, quyền lợi của quý vị sẽ không phải chịu thuế trừ khi quý vị sửa đổi lợi tức gộp điều chỉnh (MAGI) nhiều hơn số tiền căn bản cho tình trạng đệ nộp của quý vị. Nếu quý vị có lợi tức ngoài các quyền lợi của quý vị, quý vị có thể phải nộp đơn khai thuế dù là các quyền lợi của quý vị không bị thuế. Quyền lợi bị thuế và MAGI của quý vị được tính bằng cách điền tờ chiết tính trong Bản Hướng Dẫn của Mẫu 1040  hoặc Bản Hướng Dẫn của Mẫu 1040A.

Những quyền lợi chịu thuế, nếu có, phải được tính vào lợi tức gộp của người có quyền pháp lý để nhận các quyền lợi này. Thí dụ, nếu quý vị và con quý vị nhận được quyến lợi, nhưng ngân phiếu cho con của quý vị đã được viết tên của quý vị, quý vị phải sử dụng phần riêng của quý vị trong các quyền lợi để tính nếu có phần phải chịu thuế. Để tính quyền lợi của đứa con phải chịu thuế, một nửa của phần thuộc về Recon của quý vị phải được cộng vào lợi tức khác của con quý vị để ấn định xem con quý vị có phải chịu thuế cho những quyền lợi này hay không.

Nếu quý vị đã kết hôn và khai thuế chung, quý vị và phối ngẫu của quý vị phải kết hợp lợi tức, quyền lợi an sinh xã hội và quyền lợi hưu trí hỏa xa tương đương khi tính phần quyền lợi của quý vị phải chịu thuế. Ngay cả khi phối ngẫu của quý vị không nhận được quyền lợi nào, quý vị phải cộng lợi tức của phối ngẫu cùng với lợi tức của quý vị khi tính xem quyền lợi của quý vị có phải chịu thuế hay không, nếu quý vị khai thuế chung.

Nếu bất cứ phần nào của quyền lợi của quý vị phải chịu thuế, quý vị phải sử dụng Mẫu 1040 hoặc Mẫu 1040A. Quý vị không thể sử dụng Mẫu 1040EZ.

Quý vị phải nhận được Mẫu SSA-1099 hay Mẫu RRB-1099 vào đầu Tháng Hai cho những quyền lợi được trả trong năm dương lịch trước. Mẫu này cho thấy quyền lợi trả cho người có quyền pháp lý để được nhận được, và số tiền của bất cứ quyền lợi nào mà quý vị đã hoàn trả. Mẫu này cũng sẽ cho thấy số tiền mà theo đó quyền lợi đã được giảm bởi vì quý vị đã nhận được bồi thường tai nạn lao động. Bồi thường tai nạn lao động thay thế cũng sẽ bị đánh thuế với cùng mức độ. Để biết thêm thông tin, xin tham chiếu Ấn Phẩm 915, Quyền lợi An sinh Xã hội và Quyền lợi Hưu trí Hoả xa Tương đương.

Nếu có phần nào của quyền lợi an sinh xã hội hoặc quyền lợi hưu trí hỏa xa tương đương bị đánh thuế trong năm thuế hiện tại, quý vị có thể yêu cầu khấu lưu thêm từ các khoản lợi tức khác hoặc trả tiền thuế ước tính trong năm. Xin tham chiếu Ấn Phẩm 505, Khấu lưu Thuế và Thuế Uớc tính, để có thêm thông tin về thuế ước tính. Quý vị cũng có thể chọn khấu lưu thuế lợi tức từ quyền lợi an sinh xã hội hoặc quyền lợi hưu trí hỏa xa tương đương. Để biết thêm thông tin, xin tham chiếu Mẫu W-4V, Yêu cầu Khấu lưu Tự nguyện.

 


Chủ đề 424 - Các Chương Trình 401k (401k Plans)

Một chương trình 401(k) là một loại chương trình trì hoãn đền bù đủ tiêu chuẩn thuế, trong đó một nhân viên có thể lựa chọn để chủ nhân đóng góp một phần lương bằng tiền mặt của mình vào chương trình trên căn bản trước khi bị thuế. Thông thường, các tiền lương trì hoãn này (thường được gọi là đóng góp tự chọn) không bị khấu lưu thuế lợi tức khi được trì hoãn, và tiền đó không phản ánh trên Mẫu 1040 vì tiền đó không nằm trong tiền lương chịu thuế trên Mẫu W-2. Tuy nhiên, tiền đó được tính như tiền lương để chịu thuế an sinh xã hội, Medicare, và thuế thất nghiệp liên bang.

Số tiền mà một nhân viên có thể chọn trì hoãn vào chương trình 401(k) bị giới hạn bởi Luật Thuế Vụ. Ngoài ra, các khoản đóng góp tự chọn của quý vị có thể bị giới hạn dựa trên các điều khoản của chương trình 401(k). Xin tham chiếu Ấn Phẩm 525, Lợi tức Chịu thuế và Không Chịu Thuế, để biết thêm thông tin về các khoản đóng góp tự chọn. Chủ nhân nên tham chiếu Ấn Phẩm 560, Các Chương trình Hưu trí cho Doanh nghiệp Nhỏ (Các chương trình SEP, SIMPLE, và Đủ Điều kiện), để có thông tin về việc thiết lập và duy trì các chương trình hưu trí cho nhân viên, kể cả chương trình 401(k).

Phân phối từ chương trình 401(k) có thể hội đủ điều kiện để tùy chọn phân phối trọn một lần hoặc được chuyển đổi miễn là sự phân phối đủ các điều kiện cho mỗi lựa chọn. Để biết thêm thông tin, xin tham chiếu Ấn Phẩm 560, Phân phối Trọn Một Lần, và Chủ Đề 413, Chuyển đổi các Chương trình Hưu trí.

Nhiều chương trình 401(k) cho phép các nhân viên rút tiền vì hoàn cảnh khó khăn bởi khi có các nhu cầu tài chánh khẩn cấp và lớn lao. Thông thường, sự phân phối vì hoàn cảnh khó khăn từ một chương trình 401(k) bị giới hạn tới số tiền đóng góp tự chọn của nhân viên mà thôi, và không bao gồm bất cứ lợi tức nào thu được trên số tiền trì hoãn. Phân phối vì hoàn cảnh khó khăn không được tính như phân phối chuyển đổi đủ điều kiện.

Phân phối nhận được trước 59 tuổi rưỡi có thể bị phạt tiền thuế phân phối sớm là 10% thêm, trừ khi một ngoại lệ được áp dụng. Để biết thêm thông tin về việc đối xử các phân phối của chương trình hưu trí, xin tham chiếu Ấn Phẩm 575, Lợi tức Hưu bổng và Niên kim.

 


Chủ đề 425 - Các Hoạt Động Thụ Động – Thua Lỗ và Tín Dụng (Passive Activities - Losses and Credits)

Thông thường, tiền lỗ từ hoạt động thụ động cao hơn lợi tức từ hoạt động thụ động là không được phép dùng cho năm hiện tại. Tiền lỗ thụ động không được phép dùng sẽ được chuyển đổi sang năm tính thuế tiếp theo. Một nguyên tắc tương tự áp dụng đối với các tín thuế từ các hoạt động thụ động.

Hoạt động thụ động bao gồm các hoạt động thương mại kinh doanh trong đó quý vị không thực sự tham gia . Quý vị thực sự tham gia vào một hoạt động nếu quý vị dính líu đến sự hoạt động trên một căn bản thường xuyên, liên tục và đáng kể. Thông thường, hoạt động cho thuê, kể cả các hoạt động cho thuê bất động sản, cũng là hoạt động thụ động, dù là quý vị có thực sự tham gia . Hoạt động cho thuê bất động sản không phải là hoạt động thụ động nếu quý vị đang ở trong ngành kinh doanh bất động sản (nói cách khác, nếu quý vị là một "chuyên gia bất động sản") và quý vị  đủ một số điều kiện. Các sự hướng dẫn để ấn  định sự tham gia thực thụ và các điều lệ cho một chuyên gia bất động sản có thể tìm thấy trong Ấn Phẩm 925, Các Điều lệ về Hoạt động Thụ động và về Rủi ro.

Một điều lệ đặc biệt áp dụng cho các hoạt động cho thuê bất động sản mà quý vị tích cực tham gia. Các điều lệ về sự tham gia tích cực khác với với các điều lệ về sự tham gia thực thụ và cũng được thảo luận trong Ấn Phẩm 925.

Thông thường, quý vị có thể khấu lưu đầy đủ các tiền lỗ hoạt động thụ động trước đây không được phép dùng cho năm quý vị dẹp bỏ tất cả quyền lợi của quý vị đối với hoạt động này. Ngược lại, quý vị không thể khai các tín thuế chưa sử dụng từ hoạt động thụ động khi quý vị dẹp bỏ tất cả quyền lợi của quý vị đối với hoạt động này. Tuy nhiên, quý vị có thể lựa chọn tăng căn bản của tài sản tín dụng bằng một khoản tiền tương đương với phần tín dụng chưa sử dụng mà trước đó làm giảm căn bản của tài sản tín dụng.

Xin dùng Mẫu 8582, Các Giới hạn của Tiền Lỗ Hoạt động Thụ động, để tóm tắt lợi tức và các khoản lỗ từ hoạt động thụ động và để tính toán các tiền lỗ được khấu trừ. Xin dùng Mẫu 8582CR, Các Giới hạn Tín thuế Hoạt động Thụ động, để tóm tắt các khoản tín dụng từ các hoạt động thụ động và để tính tín dụng hoạt động thụ động được phép dùng. Quý vị cũng có thể sử dụng Mẫu 8582CR để lựa chọn gia tăng căn bản tài sản tín dụng khi quý vị dẹp bỏ tài sản.

 


Chủ đề 427 - Quyền Lựa Chọn Cổ Phiếu (Stock Options)

Nếu quý vị nhận được một quyền mua cổ phiếu, quý vị có thể có lợi tức khi quý vị nhận được quyền mua này, khi quý vị thi hành quyền mua, hoặc khi quý vị dẹp bỏ quyền mua hoặc cổ phiếu nhận được khi quý vị thi hành quyền mua. Có hai loại quyền mua cổ phiếu: quyền mua cổ phiếu luật định và quyền mua cổ phiếu phi luật định. Thông thường, các quyền mua được cấp theo chương trình nhân viên mua cổ phiếu hoặc chứng khoán là một chương trình quyền mua cổ phiếu khuyến khích (ISO) được coi là quyền mua cổ phiếu theo luật định. Quyền mua cổ phiếu phi luật định không được cấp theo chương trình nhân viên mua cổ phiếu hoặc chương trình quyền mua cổ phiếu khuyến khích (ISO). Xin tham chiếu Ấn Phẩm 525 , Lợi tức Chịu thuế và Không Chịu Thuế, để được hỗ trợ trong việc ấn định xem quý vị có được cấp một lựa chọn cổ phần theo luật định hoặc phi luật định.

Nếu quý vị được cấp một lựa chọn cổ phiếu theo luật định quý vị thường không tính bất cứ số tiền nào vào trong lợi tức gộp của quý vị khi quý vị được cấp hoặc thi hành các quyền mua. Tuy nhiên, quý vị có thể phải chịu Thuế Tối thiểu Thay thế trong năm quý vị thực hiện một ISO. Để biết thêm thông tin, xin tham chiếu Bản Hướng dẫn của Các chỉ dẫn trong Mẫu 6251. Quý vị có lợi tức chịu thuế hoặc tiền lỗ được khấu trừ khi quý vị bán cổ phiếu mà quý vị nhận được khi thi hành quyền mua. Thông thường, quý vị đối xử số tiền này như là tiền lời vốn hoặc lỗ vốn. Tuy nhiên, nếu quý vị không đáp ứng đủ các điều kiện đặc biệt về thời kỳ nắm giữ, quý vị sẽ phải đối xử lợi tức từ việc bán cổ phiếu như là lợi tức bình thường. Xin tham chiếu Ấn Phẩm 525 để biết chi tiết rõ ràng về các loại quyền mua cổ phiếu cũng như các điều lệ, về lúc nào báo cáo lợi tức và cách thức báo cáo lợi tức cho các mục đích thuế lợi tức.

Nếu quý vị được cấp một quyền mua cổ phiếu phi luật định, số tiền của lợi tức được tính và thời gian để tính tùy thuộc giá trị thị trường phải chăng của quyền mua có thể ấn định dễ dàng hay không. Nếu một quyền mua được tích cực giao dịch trên một thị trường có uy tín, thì giá trị thị trường phải chăng của quyền mua có thể ấn định dễ dàng. Xin tham chiếu Ấn Phẩm 525 cho các trường hợp khác mà giá trị thị trường phải chăng của một quyền mua có thể được ấn định dễ dàng và các điều lệ khi nào phải báo cáo lợi tức cho một quyền mua có giá trị thị trường phải chăng dễ ấn định. Hầu hết các quyền mua phi luật định không có giá trị thị trường phải chăng dễ ấn định. Đối với quyền mua phi luật định không có một giá trị thị trường phải chăng dễ ấn định, thì không có việc đánh thuế khi quyền mua được cấp, nhưng giá thị trường phải chăng của cổ phiếu nhận khi thi hành, trừ số tiền thanh toán, được tính vào lợi tức khi quyền mua được thực thi. Quý vị có lợi tức chịu thuế hoặc tiền lỗ khấu trừ khi quý vị bán cổ phiếu mà quý vị nhận được khi thực thi quyền mua. Thông thường quý vị đối xử số tiền này như là một tiền lời vốn hoặc tiền lỗ vốn. Để có thông tin rõ ràng và các điều kiện báo cáo, xin tham chiếu đến Ấn Phẩm 525, Lợi tức Chịu thuế và Không chịu Thuế.

 


Chủ đề 429 - Người Giao Dịch Chứng Khoán (Thông Tin cho Người Nộp Mẫu 1040) (Traders in Securities (Information for Form 1040 Filers))

Chủ đề thuế này giải thích một cá nhân người mua và bán chứng khoán có đủ tiêu chuẩn là một "nhà giao dịch chứng khoán,", cho các mục đích về thuế và người giao dịch phải báo cáo lợi tức và các chi phí từ kinh doanh giao dịch. Để hiểu rõ hơn về các điều lệ đặc biệt áp dụng cho người giao dịch chứng khoán, thứ nhất nên xem xét ý nghĩa của danh từ "nhà đầu tư", và cách thức các nhà đầu tư báo cáo lợi tức và các chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư của họ.

Các nhà đầu tư thường mua và bán chứng khoán và mong muốn lợi tức từ cổ tức, lãi suất, hoặc tăng giá vốn. Việc bán các chứng khoán này đưa đến sự lời vốn và lỗ vốn phải được báo cáo trên Mẫu 1040, Bảng khai D, Lời vốn và lỗ vốn. Các nhà đầu tư sẽ bị hạn chế mức khai lỗ vốn như được mô tả trong mục 1211 (b), cộng với mục 1091 về điều lệ bán rửa (wash sales). Thông thường các nhà đầu tư có thể khấu trừ các chi phí sản xuất lợi tức đầu tư chịu thuế. Chúng bao gồm chi phí tư vấn và khuyên nhủ đầu tư, lệ phí pháp lý, kế toán, và các bản tin đầu tư. Những chi phí này được khấu trừ trên Mẫu 1040, Bảng khai A, Các Khoản Khấu trừ được Liệt kê, như là khấu trừ các khoản linh tinh với giới hạn không được vượt quá 2% lợi tức gộp điều chỉnh. Tiền lời trả cho tiền vay mua hoặc giữ tài sản đầu tư tạo ra lợi tức chịu thuế, cũng được khấu trừ trên Bảng khai A, nhưng theo mục 163 (d) sự khấu trừ không được vượt quá lợi tức đầu tư ròng. Hoa hồng và các chi phí khác để mua hoặc bán chứng khoán không được khấu trừ nhưng phải được sử dụng để tính tiền lời hay lỗ khi bán chứng khoán này. Một nhà đầu tư không thuộc diện chịu thuế tự doanh. Để biết thêm thông tin về nhà đầu tư, xin tham chiếu Ấn Phẩm 550, Lợi tức và Chi phí Đầu tư.

Người Giao dịch

Các điều lệ đặc biệt được áp dụng nếu quý vị là một người giao dịch chứng khoán, trong ngành kinh doanh mua bán chứng khoán cho trương mục riêng của quý vị. Để được tham gia vào kinh doanh như một giao dịch chứng khoán, quý vị phải đủ tất cả các điều kiện sau đây:

  • Quý vị phải kiếm tiền lời từ sự chuyển động thị trường hàng ngày từ giá chứng khoán, chứ  không phải từ cổ tức, lãi suất, hoặc sự tăng giá vốn.
  • Hoạt động của quý vị phải đáng kể, và
  • Quý vị phải thực hiện các hoạt động này liên tục và đều đặn.

Các sự kiện và hoàn cảnh sau đây cần được xem xét trong việc ấn định là hoạt động của quý vị là một sự kinh doanh về giao dịch chứng khoán:

  • Thời gian điển hình để nắm giữ chứng khoán mua và bán.
  • Sự thường xuyên và số lượng tiền của các giao dịch của quý vị trong năm.
  • Mức độ mà quý vị theo đuổi hoạt động này để tạo ra lợi tức sinh kế, và
  • Số lượng thời gian quý vị dành cho hoạt động này.

Nếu bản chất của hoạt động giao dịch của quý vị không đủ điều kiện được coi như là một doanh nghiệp, quý vị sẽ được coi là một nhà đầu tư, và không phải là một người giao dịch . Không thành vấn đề là quý vị tự gọi là một người giao dịch hoặc một "người giao dịch trong ngày."  Hơn nữa, một người khai thuế có thể là một người giao dịch đối với một số chứng khoán và giữ các chứng khoán khác để đầu tư. Các điều lệ đặc biệt cho người giao dịch không áp dụng cho các chứng khoán được giữ để đầu tư. Một người giao dịch phải giữ hồ sơ chi tiết để phân biệt các chứng khoán được giữ để đầu tư với chứng khoán trong kinh doanh giao dịch. Các chứng khoán giữ để đầu tư phải được ấn định như vậy trong hồ sơ của người giao dịch vào ngày họ mua  (thí dụ, bằng cách giữ chúng trong một trương mục môi giới riêng biệt).

Người giao dịch báo cáo chi phí kinh doanh của họ trên Mẫu 1040, Bảng khai C, Tiền Lời hoặc Lỗ trong Việc Kinh doanh. Giới hạn về chi phí tiền lời đầu tư, mà áp dụng cho các nhà đầu tư, nhưng không áp dụng đối với tiền lời trả hoặc phát sinh trong một kinh doanh giao dịch. Tiền hoa hồng và các chi phí khác để mua hoặc bán chứng khoán không được khấu trừ nhưng phải được sử dụng để tính tiền lời hay lỗ khi bán chứng khoán. Tiền lời và tiền lỗ từ việc bán chứng khoán với tư cách là một người giao dịch không thuộc diện chịu thuế tự doanh.

Việc xử lý thuế bán các chứng khoán được giữ trong việc giao dịch tùy thuộc vào việc một người giao dịch trước đây đã tùy chọn theo mục 475 (f) sử dụng phương pháp kế toán theo giá thị trường. Nếu không lựa chọn phương pháp kế toán này, thì tiền lời và tiền lỗ từ việc bán chứng khoán được coi là tiền lời vốn và tiền lỗ vốn phải được báo cáo trên Mẫu 1040, Bảng khai D. Cả hai giới hạn về tiền lỗ vốn và các điều lệ bán rửa (wash sale) tiếp tục được áp dụng. Tuy nhiên, nếu lựa chọn kế toán theo giá thị trường được đưa đúng thời hạn, thì tiền lời hay tiền lỗ từ việc bán chứng khoán được coi là tiền lời vốn và tiền lỗ vốn (trừ chứng khoán được giữ để đầu tư – xin xem ở trên) phải được báo cáo trong Phần II của Mẫu 4797, Sự bán Tài sản Kinh doanh. Hơn nữa, các giới hạn về tiền lỗ vốn hay các điều lệ về bán rửa đều không áp dụng đối với người giao dịch sử dụng phương pháp kế toán giá thị trường.

Thông thường, sự lựa chọn kế toán giá thị trường phải được thực hiện trước ngày hết hạn (không kể thời gian gia hạn) khai thuế cho năm trước năm mà sự lựa chọn này có hiệu lực. Sự lựa chọn này được thực hiện bằng cách đính kèm một lời tuyên bố với đơn khai thuế lợi tức của quý vị hoặc đơn xin gia hạn thời gian nộp thuế của quý vị. Lời tuyên bố này phải bao gồm các thông tin sau:

  1. Quý vị thực hiện sự lựa chọn theo mục 475 (f) của Bộ Luật Thuế Vụ;
  2. Năm tính thuế đầu tiên mà sự lựa chọn có hiệu lực; và
  3. Kinh doanh giao dịch hoặc doanh nghiệp nào mà quý vị muốn thực hiện sự lựa chọn.

Xin tham chiếu Mẫu 1040, Hướng Dẫn Bảng khai D để được chỉ dẫn thêm về cách lựa chọn kế toán giá thị trường.

Sau khi thực hiện lựa chọn thay đổi phương pháp kế toán theo giá thị trường, quý vị phải thay đổi phương pháp kế toán cho chứng khoán theo Thủ tục Lợi tức 2008-52, 2009-39 và 2011-14. Ngoài việc lựa chọn này, quý vị cũng sẽ phải nộp một Mẫu 3115, Đơn xin Thay đổi Phương pháp Kế toán. Các thủ tục để thực hiện sự lựa chọn được mô tả trong Ấn Phẩm 550 trong phần được gọi là "Điều lệ Đặc biệt cho Người Giao dịch Chứng khoán", và các câu hỏi thường gặp trên trang Mạng của chúng tôi.

Nếu quý vị đã thực hiện một sự lựa chọn hợp lệ theo mục 475(f), cách duy nhất để ngưng sử dụng kế toán theo giá thị trường chứng khoán là yêu cầu và được giấy phép của Sở Thuế Vụ để thu hồi sự lựa chọn . Việc không nộp Mẫu 3115 nói ở trên sẽ không làm mất hiệu lực của một sự lựa chọn kịp thời và hợp lệ. Để xin phép huỷ bỏ sự lựa chọn của quý vị theo mục 475(f), quý vị phải nộp một Mẫu 3115 thứ hai và trả một lệ phí.

 


Chủ đề 430 - Hoán Đổi Tiền Lãi Chủ Hợp Đồng cho Cổ Phiếu (Exchange of Policyholder Interest for Stock)

Một công ty bảo hiểm hỗ tương là thuộc sở hữu của các chủ hợp đồng và không có cổ phần. Khi một công ty bảo hiểm hỗ tương hết hỗ tương hóa và trở thành một công ty chứng khoán, quyền lợi sở hữu của chủ hợp đồng bảo hiểm trong công ty bảo hiểm hỗ tương có thể được hoán đổi thành các cổ phiếu trong một công ty bảo hiểm chứng khoán và/hoặc thành tiền mặt. Việc hoán đổi này không thay đổi chương trình bảo hiểm, ngoại trừ tên của công ty phát hành. Căn bản quyền lợi sở hữu của quý vị trong công ty hỗ tương được coi là số không.

Việc đối xử sự hết hỗ tương hóa tùy thuộc vào việc công ty có là một tái-tổ chức được miễn thuế theo mục 368(a)(1) của Bộ Luật Thuế Vụ hay không. Thông tin về việc tái-tổ chức có hội đủ điều kiện theo mục 368(a)(1) hay không có thể thu thập được từ công ty bảo hiểm hỗ tương (cũ).

Nếu hết hỗ tương hóa đủ điều kiện như là một tái-tổ chức được miễn thuế và quý vị lựa chọn nhận chứng khoán, quý vị sẽ không nhận ra được lời hay lỗ trên giấy nhận của cổ phiếu. Bởi vì căn bản quyền lợi sở hữu của quý vị trong công ty hỗ tương được coi là bằng số không, căn bản của các cổ phiếu quý vị nhận được cũng bằng số không. Thời gian quý vị lưu giữ cổ phiếu mới bao gồm cả khoảng thời gian quý vị đã giữ quyền lợi sở hữu trong công ty hỗ tương.

Nếu quý vị chọn nhận tiền mặt thay vì chứng khoán trong việc tái-tổ chức được miễn thuế, quý vị được coi là đã nhận được cổ phiếu và sau đó bán các cổ phiếu này lại cho công ty (thí dụ, chuộc các cổ phiếu của quý vị). Thông thường, kết quả của việc này là tiền lời vốn hoặc lỗ vốn phải báo cáo trên Mẫu 1040, Bảng khai D, Tiền Lời Vốn và Lỗ Vốn.  Nếu quý vị sở hữu các chương trình bảo hiểm nhiều hơn một năm kể từ ngày hết hỗ tương hóa, tiền lời hay lỗ được coi là tiền lời hoặc lỗ vốn dài hạn. Nếu quý vị sở hữu chương trình bảo hiểm trong một năm hoặc ngắn hơn, tiền lời hoặc lỗ vốn được coi là tiền lời hay lỗ vốn ngắn hạn. Xin tham chiếu mục 123(1) của Bộ Luật Thuế Vụ.

Nếu sự hết hỗ tuơng hóa không hội đủ điều kiện để được coi là một tái-tổ chức được miễn thuế, quý vị phải chấp nhận sự lời vốn với một số tiền tương đương với số tiền mặt và giá trị thị trường phải chăng của cổ phiếu nhận được. Thời gian lưu giữ cổ phiếu mới của quý vị bắt đầu vào ngày sau khi quý vị nhận được cổ phiếu.

Xin tham chiếu Phán quyết Sở Thuế 71-233, 74-277, và 2003-19 về hậu quả thuế lợi tức Liên Bang của một sự hết hỗ tương hóa đủ điều kiện như là một tái-tổ chức theo mục 368(a)(1). Để biết thêm thông tin, xin tham chiếu Ấn Phẩm 550, Lợi tức và Chi phí Đầu tư.

Bản sao Phán quyết Sở Thuế có sẵn trong một trong các Thư viện Liên bang địa phương trong cộng đồng của quý vị. Để tìm thư viện gần nhất quý vị, xin đến địa chỉ mạng của Văn phòng In ấn Chính phủ ấn định Địa điểm các Thư viện Lưu ký Liên bang tại: http://catalog.gpo.gov/fdlpdir/FDLPdir.jsp.

 


Chủ đề 431 - Khoản Nợ Được Xóa - Có Phải Là Lợi Tức hay Không? (Canceled Debt - Is it Income or Not?)

Thông thường, nếu quý vị chịu trách nhiệm cho một khoản nợ được xóa, tha thứ, hoặc thải, quý vị sẽ nhận được một Mẫu 1099-C, Xóa Nợ, và phải tính số tiền xóa với lợi tức gộp trừ khi quý vị được miễn trừ hoặc được hưởng ngoại lệ. Nếu quý vị nhận được một Mẫu 1099-C nhưng chủ nợ vẫn tiếp tục cố gắng thu nợ thì khoản nợ chưa được xóa và quý vị không có lợi tức chịu thuế vì xóa nợ.

Một món nợ bao gồm bất cứ khoản nợ nào mà quý vị tự mình chịu trách nhiệm hoặc chỉ chịu trách nhiệm đến mức món tài sản dùng để bảo đảm nợ. Sự xóa bỏ tất cả hoặc một phần của một khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản có thể xảy ra vì nhà bị tịch thu, lấy lại tài sản, tự nguyện trả lại các tài sản cho người chủ nợ, từ bỏ tài sản, hoặc điều chỉnh tiền nợ nhà chính. Quý vị phải báo cáo tất cả tiền nợ chịu vì được xóa bỏ mà cá nhân quý vị phải chịu trách nhiệm, như là lợi tức thông thường từ việc xóa bỏ khoản nợ, trên Mẫu 1040 hoặc Mẫu 1040NR và các bảng khai phụ liên hệ, như được tư vấn trong Ấn Phẩm 4681  của IRS, Xóa Nợ, Tịch thu, Lấy lại, và Từ bỏ (đối với cá nhân). Quý vị phải báo cáo số tiền chịu thuế đối với khoản nợ chịu thuế, bất kể quý vị có nhận được một Mẫu 1099-C hay không.

Lưu ý: Nếu khoản nợ của quý vị được bảo đảm bằng tài sản, và tài sản bị chủ nợ lấy lại để bù cho toàn bộ hoặc một phần của khoản nợ của quý vị, quý vị có thể được coi là đã bán tài sản đó và có thể phải báo cáo tiền lời hay tiền lỗ. Tiền lời hoặc tiền lỗ của việc cho là bán như vậy là một vấn đề riêng biệt với vấn đề món nợ xóa bỏ liên hệ đến cùng tài sản đó có được tính vào lợi tức gộp hay không. Xin xem Ấn Phẩm 544  của IRS, Bán Tài sản và Cách Dẹp bỏ Tài sản Khác, để có các thông tin chi tiết về việc báo cáo tiền lời hay lỗ từ sự tịch thu, lấy lại tài sản hoặc từ bỏ tài sản.

Các khoản nợ được xóa mà hội đủ các điều kiện hưởng bất cứ trường hợp ngoại lệ nào sau đây, thì không phải chịu thuế.

Nợ được xóa mà đủ tiêu chuẩn được hưởng NGOẠI LỆ khỏi tính vào Lợi tức Gộp:

  1. Các khoản tiền được loại trừ rõ ràng khỏi lợi tức bởi quy định pháp luật như là quà tặng hoặc  di sản
  2. Sự xóa bỏ một số các khoản tiền cho sinh viên vay đủ điều kiện
  3. Món nợ được xóa bỏ mà nếu trả nợ bởi một người nộp thuế trên căn bản tiền mặt,cũng sẽ  được khấu trừ
  4. Một sự giảm giá mua đủ điều kiện mà người bán thực hiện

Nợ được xóa mà đủ tiêu chuẩn được hưởng MIỄN TRỪ khỏi Lợi tức Gộp:

  1. Xóa bỏ nợ đủ điều kiện của nhà ở chính
  2. Nợ được xóa bỏ trong trường hợp phá sản theo Đề 11
  3. Nợ được xóa bỏ vì vỡ nợ
  4. Xóa bỏ nợ trang trại đủ điều kiện
  5. Xóa bỏ nợ bất động sản kinh doanh đủ điều kiện

Việc miễn trừ "nợ gia cư chính đủ điều kiện,” cung cấp việc giúp đỡ thuế tiền nợ được xóa bỏ cho nhiều chủ sở hữu nhà ở Mỹ dính líu đến cuộc khủng hoảng tịch thu nhà thế chấp hiện đang ảnh hưởng đến phần lớn của đất Mỹ. Sự miễn trừ này cho phép người nộp thuế miễn trừ đến $2,000,000 ($1,000,000  nếu kết hôn khai thuế riêng biệt) của "nợ gia cư chính đủ điều kiện".

Thông thường, nếu quý vị miễn trừ nợ được xóa bỏ khỏi lợi tức theo một trong các miễn trừ được liệt kê ở trên, quý vị cũng phải giảm thuộc tính thuế của quý vị (một số tín dụng, thất thoát, và căn bản của tài sản) với số tiền được miễn trừ. Quý vị phải nộp Mẫu 982, Giảm Thuộc tính Thuế do Xả Nợ (và Mục 1082 Căn bản Điều chỉnh), để báo cáo các miễn trừ và sự giảm tương ứng của một số thuộc tính thuế.

Xin tham chiếu Ấn Phẩm 4681, Xóa Nợ, Tịch thu, Lấy lại, và Từ bỏ (đối với cá nhân), để biết thêm thông tin chi tiết về việc tính thuế đối với nợ được xóa bỏ, làm thế nào để báo cáo, và các ngoại lệ cùng các miễn trừ liên quan. Thông tin bổ túc cũng có thể được tìm thấy trong Ấn Phẩm 525, Lợi tức Chịu thuế và Không Chịu thuế.

Page Last Reviewed or Updated: 11-thg 3-2013