IRS Logo
Print - Click this link to Print this page

Cách Tính Giá Tiền Hàng Hóa Đã Bán

Mục Lục

  1. Giới Thiệu
  2. Tính Giá Tiền Hàng Hóa Đã Bán ở Danh Mục C, Dòng 35 Tới 42
    • Dòng 35: Lượng Tồn vào Đầu Năm
    • Dòng 36: Vật Phẩm Mua Thêm Trừ Đi Giá Tiền Những Mục Đã Lấy Ra để Dùng Cho Cá Nhân
    • Dòng 37: Chi Phí Nhân Công
    • Dòng 38: Tiếp Liệu và Vật Liệu
    • Dòng 39: Chi Phí Khác
    • Dòng 40: Cộng Các Dòng từ 35 tới 39
    • Dòng 41: Lượng Tồn vào Cuối Năm
    • Dòng 42: Giá Tiền Hàng Hóa Đã Bán

 Table of Contents

  1. Introduction
  2. Figuring Cost of Goods Sold on Schedule C, Lines 35 Through 42
    • Line 35 Inventory at Beginning of Year
    • Line 36 Purchases Less Cost of Items Withdrawn for Personal Use
    • Line 37 Cost of Labor
    • Line 38 Materials and Supplies
    • Line 39 Other Costs
    • Line 40 Add Lines 35 through 39
    • Line 41 Inventory at End of Year
    • Line 42 Cost of Goods Sold

 


1. Giới Thiệu (Introduction)

Nếu quý vị tự làm ra hoặc mua hàng hóa để bán thì có thể khấu trừ giá tiền hàng hóa đã bán ra khỏi tổng tiền thu vào của mình trên Danh Mục C. Tuy nhiên, muốn xác định những món tiền này thì phải tính giá trị hàng tồn kho vào đầu và cuối mỗi niên thuế.

Chương này áp dụng cho quý vị trên tư cách nhà sản xuất, nhà bán sỉ hay bán lẻ, hoặc nếu quý vị đang tham gia lĩnh vực kinh doanh nào làm ra hay mua bán hàng hóa để có được lợi tức. Chương này không áp dụng cho lĩnh vực dịch vụ cá nhân, chẳng hạn như hoạt động hành nghề bác sĩ, luật sư, thợ mộc, hoặc thợ sơn. Tuy nhiên, nếu quý vị vừa làm việc trong lĩnh vực dịch vụ cá nhân vừa buôn bán hay thu tiền tiếp liệu và vật liệu thường dùng trong nghề của mình, thì chương này cũng áp dụng cho quý vị.

Nếu quý vị cần tính lượng tồn trong nghề của mình thì nói chung phải dùng phương pháp kế toán tích lũy cho các mục mua và bán. Muốn biết thêm thông tin thì nên xem chương 2. 

 


2. Tính Giá Tiền Hàng Hóa Đã Bán ở Danh Mục C, Dòng 35 Tới 42 (Figuring Cost of Goods Sold on Schedule C, Lines 35 Through 42)

Hãy tính giá tiền hàng hóa đã bán bằng cách điền đầy đủ vào các dòng từ 35 tới 42 của Danh Mục C. Những dòng này được ghi lại dưới đây và có giảng giải trong phần bàn thảo tiếp nối.

 

 35 Lượng tồn vào đầu năm. Nếu khác với lượng tồn kết sổ của năm ngoái thì đính kèm lời giải thích
 36 Vật phẩm mua thêm trừ đi giá tiền những mục đã lấy ra để dùng cho cá nhân
 37 Chi phí nhân công. Không bao gồm bất cứ số tiền nào trả cho bản thân
 38 Tiếp liệu và vật liệu 
 39 Các chi phí khác
 40 Cộng các dòng từ 35 tới 39
 41 Lượng tồn vào cuối năm
 42 Giá tiền hàng hóa đã bán. Trừ dòng 41 ra khỏi dòng 40. Ghi kết quả nơi đây và ở dòng 4

 

Dòng 35: Lượng Tồn vào Đầu Năm (Line 35 Inventory at Beginning of Year )

Nếu quý vị là thương gia thì lượng tồn khởi điểm là giá hàng hóa hiện có vào đầu năm và sẽ bán cho khách hàng. Nếu quý vị là nhà chế tạo hay sản xuất, thì trong đó bao gồm tổng chi phí cho nguyên liệu, công việc đang tiến hành, thành phẩm, tiếp liệu và vật liệu dùng để sản xuất hàng hóa (xem phần Bản Kiểm Kê ở chương 2).

Thường thì lượng tồn đầu kỳ sẽ giống hệt lượng tồn kết sổ của năm trước. Quý vị phải giải thích bất cứ chênh lệch nào trong danh mục đính kèm với tờ khai của mình.

Hiến tặng lượng tồn kho Donation of inventory) - Nếu quý vị tặng cho từ thiện hàng tồn kho (tài sản bán ra trong tiến trình kinh doanh) thì số tiền có thể khai dưới dạng khấu giảm là khoản nhỏ hơn giữa giá trị thị trường hợp lý vào ngày đóng góp và trị giá căn bản. Trị giá căn bản của lượng tồn kho đem hiến tặng là bất cứ chi phí nào xuất hiện ở số hàng này trong năm trước mà quý vị sẽ ghi vào lượng tồn đầu kỳ của năm đóng góp. Quý vị phải loại khoản khấu giảm nhờ đóng góp ra khỏi lượng tồn đầu kỳ. Đó không phải là một phần của giá tiền hàng hóa đã bán. 

Nếu không bao gồm trị giá lượng tồn kho đem hiến tặng trong lượng tồn đầu kỳ thì trị giá căn bản của hàng tồn bằng 0, và quý vị không thể khai khoản khấu giảm cho đóng góp từ thiện. Hãy tính chi phí tồn kho như vẫn thường tính theo phương pháp kế toán. Thí dụ: nhớ ghi giá mua của lượng tồn đã hiến tặng trong năm vào giá tiền hàng hóa đã bán trong năm đó. 

Cũng có quy tắc đặc biệt đối với một số dạng hiến tặng thực phẩm tồn kho. Nên xem phần Thực Phẩm Tồn Kho của Ấn Phẩm 526, Đóng Góp Từ Thiện.

Thí dụ 1: Quý vị là người đóng thuế theo niên lịch và sử dụng phương pháp kế toán tích lũy. Quý vị đã đóng góp tài sản từ lượng hàng tồn cho nhà thờ trong năm 2013. Giá trị thị trường hợp lý lúc đó là $600. Lượng tồn kết sổ vào cuối năm 2012 đã ghi đúng $400 chi phí thâu mua tài sản, và trong năm 2012, quý vị cũng khấu trừ xong $50 chi phí điều hành và phí tổn khác trên tài sản dưới dạng doanh phí. Đóng góp từ thiện khả thi trong năm 2013 là $400 ($600 - $200). $200 là số tiền lợi tức thông thường nếu quý vị bán lượng hàng tồn đã đóng góp với giá trị thị trường hợp lý vào ngày biếu tặng. Trong giá tiền hàng hóa đã bán - dùng để xác định tổng lợi tức cho năm 2013 - không được gồm luôn $400 này. Quý vị phải loại số tiền đó khỏi lượng tồn đầu kỳ của năm 2013.

Thí dụ 2: Ở Thí Dụ 1, nếu quý vị đã mua phần tài sản đóng góp trong năm 2013 với giá $400, thì cần dùng trị số này khi tính giá tiền hàng hóa đã bán vào năm 2013 và khấu trừ $50 chi phí điều hành cùng với phí tổn khác trên tài sản trong năm đó. Quý vị sẽ không có bất cứ khoản khấu giảm nào đối với tài sản đã đóng góp từ thiện.

Dòng 36: Vật Phẩm Mua Thêm Trừ Đi Giá Tiền Những Mục Đã Lấy Ra để Dùng Cho Cá Nhân (Line 36 Purchases Less Cost of Items Withdrawn for Personal Use)

Nếu quý vị là thương gia thì sử dụng phần chi phí cho mọi loại hàng hóa đã mua để bán lại. Nếu quý vị là nhà chế tạo hay sản xuất thì trong đó bao gồm chi phí của mọi nguyên liệu hoặc bộ phận đã mua để làm ra thành phẩm.

Chiết khấu thương mại (Trade Discounts) - Phần chênh lệch giữa giá niêm yết của vật phẩm và món tiền mua thật sự được gọi là chiết khấu thương mại. Quý vị phải sử dụng giá thực trả (không phải giá niêm yết) để tính chi phí mua vào. Không được ghi riêng số tiền chiết khấu dưới dạng một mục trong tổng lợi tức.

Trong hồ sơ kiểm kê, đại lý xe hơi phải ghi giá chiếc xe đã trừ hết mọi khoản giảm giá mang danh nghĩa chiết khấu thương mại của nhà sản xuất.

Chiết khấu tiền mặt (Cash Discounts) - Chiết khấu tiền mặt là số tiền mà nhà cung cấp trừ bớt  khỏi hóa đơn mua hàng khi quý vị chi trả nhanh chóng. Có hai phương pháp kế toán chiết khấu tiền mặt. Quý vị có thể ghi khoản này vào trương mục chiết khấu riêng, hoặc trừ khỏi tổng tiền mua trong năm. Phải tiếp tục giữ vững phương pháp sử dụng, bất kể đó là cách nào. Nếu quý vị muốn đổi phương pháp tính chi phí tồn kho thì phải đệ nộp Mẫu 3115, Đơn Xin Thay Đổi Phương Pháp Kế Toán. Muốn biết thêm thông tin thì nên xem phần Thay Đổi Phương Pháp Kế Toán ở chương 2.

Nếu quý vị ghi chiết khấu tiền mặt vào trương mục riêng thì phải gộp số dư này trong lợi tức kinh doanh vào cuối niên thuế. Nếu dùng phương pháp này thì đừng hạ giảm giá tiền hàng hóa đã bán bằng khoản chiết khấu tiền mặt.

Hàng hóa trả lại và bớt giá khi mua (Purchase returns and allowances) - Phải khấu trừ mọi hàng hóa trả lại và khoản bớt giá ra khỏi tổng tiền mua trong năm.

Hàng hóa đã lấy khỏi hoạt động kinh doanh (Merchandise withdrawn from sale) - Nếu quý vị lấy hàng hóa để dùng cho bản thân hay gia đình thì phải loại chi phí này ra khỏi tổng tiền hàng hóa đã mua để bán. Và thực hiện bằng cách ghi chi phí cho hàng hóa đã lấy ra vì mục đích riêng vào trương mục mua hoặc bán. Quý vị cũng phải tính số tiền này trong trương mục trích rút của mình.

Trương mục trích rút là trương mục riêng mà quý vị phải duy trì để ghi chép lợi tức kinh doanh mình đã lấy ra để trang trải chi phí cá nhân và gia đình. Như đã nêu trên, quý vị cũng dùng trương mục này để ghi chép những lần lấy hàng hóa ra để dùng cho bản thân hay gia đình. Cũng được gọi là “trương mục tiền rút ra” hay “trương mục cá nhân”.

Dòng 37: Chi Phí Nhân Công (Line 37 Cost of Labor)

Chi phí nhân công thường là một thành phần của giá tiền hàng hóa đã bán (chỉ trong lĩnh vực sản xuất hoặc khai thác mỏ). Các tiểu thương (nhà bán sỉ, nhà bán lẻ, v.v...) thường không có chi phí nhân công tương thích để tính vào giá tiền hàng hóa đã bán. Trong lĩnh vực sản xuất, chi phí nhân công có thể tính vào giá tiền hàng hóa đã bán bao gồm cả dạng lao động trực tiếp lẫn gián tiếp dùng để chuyển nguyên liệu thành sản phẩm đã chế tạo và có thể bán được.

Lao động trực tiếp (Direct labor) - Chi phí nhân công trực tiếp là lương bổng trả cho nhân viên làm việc toàn nhiệm trực tiếp với sản phẩm đang chế tạo. Trong đó cũng bao gồm phần tiền lương trả cho nhân viên làm việc khiếm nhiệm trực tiếp với sản phẩm, nếu có thể xác định phần công xá đó.

Lao động gián tiếp (Indirect labor) - Chi phí nhân công gián tiếp là lương bổng trả cho nhân viên thực hiện chức năng tổng quát trong hãng xưởng - chức năng này không có bất cứ mối liên quan hiện hữu hay trực tiếp nào với việc chế tạo sản phẩm có thể bán được, nhưng lại là phần cần thiết của quá trình sản xuất.

Dạng lao động khác (Other labor) -Có thể khấu trừ những chi phí nhân công khác dưới dạng phí tổn điều hành hay mua bán, nếu chưa được tính thỏa đáng trong giá tiền hàng hóa đã bán. Nói chung, các dạng chi phí nhân công được tính thỏa đáng trong giá tiền hàng hóa đã bán là chi phí nhân công trực tiếp hoặc gián tiếp, cùng với một số mục khác được xem như chi phí chung đã gộp vào quá trình sản xuất, như sẽ bàn đến dưới đây tại phần Dòng 39: Chi Phí Khác.

Dòng 38: Tiếp Liệu và Vật Liệu (Line 38 Materials and Supplies )

Tiếp liệu và vật liệu dùng để chế tạo sản phẩm - chẳng hạn như đồ kim khí và hóa chất - được tính vào giá tiền hàng hóa đã bán. Những gì chưa dùng đến trong quá trình sản xuất đều được xem như khoản phí hoãn trả, và quý vị sẽ khấu trừ dưới dạng doanh phí khi sử dụng. Doanh phí được bàn đến ở chương 8.

Dòng 39: Chi Phí Khác (Line 39 Other Costs)

Sau đây là thí dụ về các chi phí khác - có cội nguồn từ tiến trình sản xuất hoặc khai thác mỏ - được tính vào giá tiền hàng hóa đã bán.

Vật chứa (Containers) - Vật chứa và bao bì vốn là phần không thể tách rời của sản phẩm đã chế tạo sẽ được tính vào giá tiền hàng hóa bán ra. Nếu đó không là phần chẳng thể tách rời của sản phẩm đã chế tạo thì tính vào phí tổn vận chuyển hay bán hàng.

Chuyên chở (Freight-in) - Cước phí, phí tốc hành và vận tải nguyên liệu, tiếp liệu dùng để sản xuất và hàng hóa mua vào để bán ra - tất cả đều là một phần của giá tiền hàng hóa đã bán.

Chi phí chung (Overhead expenses) - Chi phí chung bao gồm những phí tổn như tiền thuê, đun sưởi, chiếu sáng, năng lượng, bảo hiểm, khấu hao, thuế, bảo trì, lao động, và giám sát. Chi phí chung thuộc diện phí tổn trực tiếp và cần thiết cho hoạt động sản xuất sẽ bao gồm trong giá tiền hàng hóa bán ra.

Dòng 40: Cộng Các Dòng từ 35 tới 39 (Line 40 Add Lines 35 through 39)

Tổng các dòng 35 tới 39 sẽ là chi phí cho hàng hóa có sẵn để bán trong năm.

Dòng 41: Lượng Tồn vào Cuối Năm (Line 41 Inventory at End of Year)

Trừ giá trị của lượng tồn kết sổ (kể cả những phần có thể gộp vào sau đây, nếu thích hợp: chi phí cho tiếp liệu và nguyên liệu, lao động trực tiếp, và chi phí chung) ra khỏi dòng 40. Lượng tồn vào cuối năm cũng còn gọi là lượng tồn kết sổ hoặc cuối kỳ. Thường thì lượng tồn cuối kỳ sẽ là lượng tồn khởi điểm của niên thuế kế tiếp.

Dòng 42: Giá Tiền Hàng Hóa Đã Bán (Line 42 Cost of Goods Sold )

Khi trừ lượng tồn kết sổ (lượng tồn vào cuối năm) ra khỏi chi phí cho hàng hóa có sẵn để bán thì hiệu số sẽ là giá tiền hàng hóa đã bán trong niên thuế.

Page Last Reviewed or Updated: 13-Nov-2014