Topic 452Alimony

Tính thuế tiền cấp dưỡng

Số tiền trả cho người hôn phối hay người hôn phối cũ theo nghị định ly hôn hay ly thân (bao gồm nghị định ly hôn, nghị định bảo dưỡng ly thân, hay thỏa thuận ly thân bằng văn bản) có thể là tiền cấp dưỡng cho mục đích thuế liên bang. Tiền cấp dưỡng có thể khấu trừ theo người hôn phối là người trả, và người hôn phối là người nhận phải ghi vào trong lợi tức.

Lưu ý: Quý vị không thể khấu trừ tiền cấp dưỡng hoặc các khoản thanh toán bảo dưỡng ly thân được trả theo thỏa thuận ly hôn hoặc ly thân (1) được thực hiện sau năm 2018 hoặc (2) được thực hiện trước năm 2019 nhưng sau đó đã sửa đổi và sửa đổi đó nêu rõ việc bãi bỏ khấu trừ cho khoản thanh toán tiền cấp dưỡng áp dụng cho sửa đổi. Tiền cấp dưỡng và các khoản thanh toán bảo dưỡng ly thân mà quý vị nhận được theo thỏa thuận như vậy không được tính vào thu nhập gộp của quý vị.

Các quy định về tiền cấp dưỡng

Tiền trả là tiền cấp dưỡng chỉ khi đáp ứng tất cả quy định sau đây:

  • Người hôn phối không nộp thuế chung với nhau;
  • Tiền trả bằng tiền mặt (bao gồm chi phiếu hay lệnh phiếu);
  • Tiền trả cho hay dành cho người hôn phối hoặc người hôn phối cũ theo nghị định ly hôn hoặc ly thân;
  • Nghị định ly hôn hoặc ly thân không nói về việc trả tiền này là không phải tiền cấp dưỡng;
  • Các người hôn phối không phải là thành viên của cùng một gia hộ khi được trả tiền (Quy định này chỉ áp dụng khi người hôn phối ly thân hợp pháp theo nghị định ly hôn hay bảo dưỡng ly thân.);
  • Không có trách nhiệm trả tiền (bằng tiền mặt hay tài sản) sau khi người hôn phối là người nhận chết; và
  • Tiền trả không được coi là tiền cấp dưỡng con cái hay phân chia tài sản.

Tiền trả không phải tiền cấp dưỡng

Không phải tất cả tiền trả theo nghị định ly hơn hay ly thân đều là tiền cấp dưỡng. Tiền cấp dưỡng không bao gồm:

  • Tiền cấp dưỡng con,
  • Phân chia tài sản không phải tiền mặt, dù trả trọn hay trả góp,
  • Tiền trả là phần lợi tức tài sản chung của người hôn phối,
  • Tiền trả để giữ tài sản của người trả tiền,
  • Sử dụng tài sản của người trả tiền, hoặc
  • Tiền trả tự nguyện (đó là số tiền trả không đòi hỏi bởi nghị định ly hôn hoặc ly thân).

Tiền cấp dưỡng con cái không bao giờ được khấu trừ và không được coi là lợi tức. Ngoài ra, nếu nghị định ly hôn hay ly thân quy định tiền cấp dưỡng và tiền cấp dưỡng con cái, và người hôn phối là người trả trả ít hơn số tiền phải trả, thì số tiền trả áp dụng trước tiên vào tiền cấp dưỡng con. Tiền còn lại được coi là tiền cấp dưỡng.      

Báo Cáo Tiền Cấp Dưỡng

Nếu quý vị trả số tiền được coi là tiền cấp dưỡng thì có thể khấu trừ khỏi lợi tức số tiền cấp dưỡng đã trả dù có liệt kê từng mục khấu trừ hay không. Khấu trừ tiền trả cấp dưỡng trên Mẫu Đơn 1040, Bản Khai Thuế Lợi Tức Cá Nhân Hoa Kỳ (tiếng Anh) và đính kèm Bản Khai 1 (Mẫu Đơn 1040), Thu Nhập Bổ Sung và Điều Chỉnh Thu Nhập . Quý vị phải ghi số an sinh xã hội (social security number, hay SSN) hoặc mã số thuế cá nhân (individual taxpayer identification number, hay ITIN) của người hôn phối hay người hôn phối cũ nhận tiền trả, nếu không thì quý vị không được phép khấu trừ và quý vị có thể phải trả tiền phạt $50.

Nếu đã nhận số tiền được coi là tiền cấp dưỡng thì quý vị phải ghi số tiền cấp dưỡng nhận được là lợi tức. Báo cáo tiền cấp dưỡng đã nhận trên Mẫu Đơn 1040 (đính kèm Bản Khai 1 (Mẫu Đơn 1040)) hay trên Bản Khai NEC, Mẫu Đơn 1040-NR, Đơn Khai Thuế Lợi Tức cho Ngoại Nhân Không Thường Trú Hoa Kỳ (tiếng Anh). Quý vị phải cung cấp số SSN hay ITIN cho người hôn phối hay người hôn phối cũ trả tiền, nếu không quý vị có thể trả tiền phạt $50. 

Thông Tin Thêm

Muốn biết thêm thông tin chi tiết về các quy định đối với tiền cấp dưỡng và những trường hợp quý vị cần lấy lại số tiền đã khai hay khấu trừ (lấy lại tiền cấp dưỡng), xem Ấn Bản 504, Cá Nhân Đã Ly Hôn hay Ly Thân (Publication 504, Divorced or Separated Individuals(tiếng Anh)). Xem phiên bản 2004 của Ấn Bản 504 (Publication 504) (PDF)(tiếng Anh) để biết thêm thông tin về các nghị định và thỏa thuận được ký trước 1985.