Theo thông luật, bất kỳ ai thực hiện dịch vụ cho bạn đều là nhân viên của bạn nếu bạn có thể kiểm soát những gì sẽ được thực hiện và cách thức thực hiện. Điều này vẫn đúng ngay cả khi bạn cho nhân viên quyền tự do hành động. Điều quan trọng là bạn có quyền kiểm soát các chi tiết về cách thức thực hiện dịch vụ.
Nếu bạn có mối quan hệ chủ lao động-nhân viên, thì việc gọi tên mối quan hệ đó như thế nào không quan trọng. Bản chất của mối quan hệ, chứ không phải tên gọi, mới quyết định tình trạng của người lao động. Việc cá nhân đó làm việc toàn thời gian hay bán thời gian không quan trọng.
Để xác định một cá nhân là nhân viên hay nhà thầu độc lập theo thông luật, cần phải xem xét mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp. Trong bất kỳ quyết định nào về việc xác định nhân viên hay nhà thầu độc lập, tất cả thông tin cung cấp bằng chứng về mức độ kiểm soát và mức độ độc lập đều phải được xem xét.
Các bằng chứng về mức độ kiểm soát và độc lập được chia thành ba loại: kiểm soát hành vi (tiếng Anh), kiểm soát tài chính (tiếng Anh) và dạng quan hệ (tiếng Anh) giữa các bên.
Ví dụ: Donna Lee là một nhân viên bán hàng làm việc toàn thời gian cho Bob Blue, một đại lý ô tô. Cô ấy làm việc 6 ngày một tuần và trực tại phòng trưng bày của Bob vào những ngày và giờ được chỉ định. Cô ấy định giá xe cũ đem đổi, nhưng việc định giá của cô ấy phải được sự chấp thuận của quản lý bán hàng. Danh sách khách hàng tiềm năng thuộc về đại lý. Cô ấy phải tìm kiếm khách hàng tiềm năng và báo cáo kết quả cho quản lý bán hàng. Nhờ kinh nghiệm của mình, cô ấy chỉ cần sự hỗ trợ tối thiểu trong việc hoàn tất bán hàng và thu xếp tài chính cũng như trong các giai đoạn khác của công việc. Cô ấy được trả hoa hồng và đủ điều kiện nhận các giải thưởng và tiền thưởng do Bob cung cấp. Bob cũng chi trả chi phí bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm nhân thọ nhóm có kỳ hạn cho Donna. Donna là nhân viên của Bob Blue.